Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Khái quát lịch sử Việt Nam cổ - trung đại 2

Chương 3: Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc - chống Bắc thuộc
3.1. Việt Nam thời Bắc thuộc

  Năm 179 TCN, Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, thành lập nước Nam Việt. Năm 111 TCN, vua Hán Vũ đế đưa quân xâm chiếm Nam Việt, đổi tên thành Giao Chỉ. Theo quan niệm cũ, người ta lấy năm 111 TCN là năm khởi đầu Bắc thuộc, nhưng các sử gia hiện nay thống nhất lấy năm 179 TCN làm năm mở đầu thời kỳ Bắc thuộc. Chính sự tồn tại độc lập của các bộ tộc đã tăng cường tính cố kết giữa các bộ tộc, trong khi đó các công xã nông thôn tồn tại độc lập. Mặc dù An Dương Vương cố gắng hợp nhất thành một liên minh vững chắc, nhưng liên minh này thực sự rất lỏng lẻo, vì (1) tính ràng buộc, gắn kết không thực sự chặt giữa nhà nước với công xã (nhà nước thời sơ khai chưa có bộ luật cụ thể) và (2) tính tồn tại một cách độc lập, khép kín của các công xã, bộ lạc đã làm mất đi mối quan hệ, giao lưu lẫn nhau giữa họ và cuối cùng là không có phối hợp cùng nhà nước đấu tranh chống ngoại xâm. Nhà nước của Triệu Đà, của nhà Hán chỉ có thiết lập bộ máy ở trung ương, không đụng đến tổ chức chính quyền ở địa phương Âu Lạc. Các làng xã, thôn xóm thực chất là những nhà nước độc lập và bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước họa xâm lược của ngoại xâm. 
   Trong cộng đồng người dân ở Việt Nam thì Bắc thuộc, mặc dù người Việt  chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với người Hán, nhưng họ vẫn giữ được ý thức dân tộc cao. Văn hóa Việt Nam tuy còn hạn chế, chiếm tỉ lệ thấp nhưng là văn hóa chủ đạo vì nó có gốc rễ vững chắc trong thời Văn Lang - Âu Lạc, khó mà bị kẻ thù đàn áp, phá hoại được. Văn hóa Hán mặc dù là ngoại tộc, có tính xâm nhập mạnh mẽ (có từ lâu đời, trước văn hóa Việt hơn hàng nghìn năm) nhưng khi vào nước ta, nền văn hóa này được hòa lẫn vào văn hóa Việt Nam, được người Việt tiếp thu và chọn lọc cho phù hợp với bối cảnh và thời đại con người. Việc hòa nhập, giao lưu văn hóa giữa 2 cộng đồng người Hán - Việt này dần dần tạo nên sự gắn bó, cố kết lẫn nhau trong văn hóa Việt Nam, thể hiện tính độc lập dân tộc. Ý thức độc lập dân còn thì sẽ dẫn tới phong trào giải phóng dân tộc chắc chắn sẽ nổ ra và giành thắng lợi, thể hiện ý thức cộng đồng cao. Văn hóa Hán bị áp đảo và có chuyển biến sâu sắc trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam
3.2. Chống Bắc thuộc và những chuyển biến kinh tế, xã hội và văn hóa Việt Nam

3.3. Các quốc gia cổ trung đại ở phía Nam Việt Nam
a. Quốc gia Champa:
+ Hình thành và phát triển:
Quốc gia Champa được hình thành từ lâu đời ở vùng phía Nam nước ta và có quan hệ mật thiết với Việt Nam trong suốt thời kỳ phát triển của nó. Lịch sử hình thành của Champa gắn liền với văn hóa Sa Huỳnh - nền văn hóa cổ ở Việt Nam tồn tại từ khoảng thế kỷ VI TCN - thế kỷ II SCN và nhà nước Champa đã hình thành, phát triển đến thế kỷ XIX thì bị diệt vong. Các đền tháp chủ yếu xây dựng ở nơi đây. Trước khi thành lập nhà nước, nơi đây còn trong tình trạng công xã thị tộc bộ lạc và có 4 thế kỷ bị quân Hán xâm lược và thống trị. Bộ lạc Cau và Dừa chính là những bộ lạc thành lập nhà nước vào thế kỷ II SCN.  Kinh đô Champa di chuyển lần lần từ bắc vào nam, đầu tiên là Trà Kiệu (Quảng Nam, thế kỷ II), Đồng Dương, Khánh Hòa và cuối cùng là Bình Định. Vương quốc Champa được hình thành do sự kết hợp của nhiều bộ lạc tạo thành liên minh bộ lạc, tuy nhiên theo chính sử Trung Quốc và Việt Nam thì Champa hình thành do liên minh 2 bộ lạc mạnh nhất là bộ lạc Cau ở phía bắc (từ Quảng Nam - Bình Định); bộ lạc Dừa ở phía nam (Bình Định trở vào Nam) và hai bộ lạc này sống trên một vùng đất phía nam rộng lớn, lấy Bình Định làm ranh giới của lãnh địa hai bộ lạc này. Khi nhà Hán đem quân xâm chiếm, đặt quận Tượng Lâm, nhân dân ở đây không ngừng đấu tranh chống lại quân Hán và cuối cùng, năm 190 - 192 họ đã giành được độc lập và thành lập quốc gia. Sở dĩ Champa giành độc lập sớm và nhanh gọn trước khi Việt Nam độc lập (Việt Nam độc lập vào thế kỷ X) là có nhiều nguyên do khác nhau, nhưng có lẽ nguyên nhân dẫn đến Champa giành thắng lợi trước Việt Nam là do Champa có sự may mắn. Việt Nam gần Trung Quốc nhưng Trung Quốc mạnh nên đủ sức đàn áp các cuộc nổi dậy của người Việt, nhưng quận Tượng Lâm thì xa so với nhà Hán và là vùng đệm nên có nhiều thuận lợi hơn. Cuối thế kỷ II, nhân khi nhà Hán ở Trung Quốc suy vi, nhân dân hai bộ lạc Cau và Dừa sưới sự lãnh đạo của Khu Liên nổi dậy giành được độc lập, thành lập nên quốc gia Lâm Ấp. Sau khi lập nước, Khu Liên đánh thẳng ra Bắc, tiến tới Đèo Ngang (Quảng Bình) rồi lập ranh giới quốc gia ở đó, quốc gia Champa - nhà nước quân chủ mới đã chính thức được thành lập. Việt Nam thời kỳ đó bị Trung Quốc đối xử tệ, Trung Quốc cho rằng Việt Nam là dân man di và không có văn minh, Việt Nam sau khi độc lập phát triển thành quốc gia lớn cũng bắt chước Trung Quốc, gọi các nước xung quanh, đặc biệt là các dân tộc thiểu số là man di, mọi rợ với tính miệt thị, kỳ thị.
Lâm Ấp ra đời sớm nhưng nó có giai đoạn phát triển mạnh, từng mở rộng lãnh thổ và gây chiến với Đại Việt, Angkor (Campuchia), Lào.... Quân đội rất thiện chiến và điều đó là phổ biến, nước lớn tấn công nước nhỏ là chuyện thường ngày.
+ Tình hình kinh tế - xã hội:
- Nông nghiệp: trồng lúa là chủ yếu. Lý do cho hiện tượng này là vì: cư dân Champa sống dọc ven biển, nhưng họ ít làm nghề biển. Mặc khác, dân số ít, đất hẹp nên trồng lúa là chủ yếu để có lương thực. Khảo cổ học từng phát hiện nơi đây có công cụ bằng sắt, chứng tỏ có nông nghiệp phát triển
- Nhà nước: theo thể chế quân chủ chuyên chế. Quyền lực của vua là vô hạn, có tính thế tập (chính trị) và có tính tôn giáo. Vua chia đất nước thành các châu, huyện, làng. Khảo cổ học nghiên cứu Champa về tổ chức hành chính thì cho rằng, Vua chia đơn vị hành chính theo đơn vị bộ lạc (Champa có 4 bộ lạc lớn), dẫn tới thành lập nhà nước với 4 châu lớn nhỏ khác nhau. Kinh đô Champa thay đổi theo thời kỳ từ bắc xuống nam: Trà Kiệu - Đồng Dương - Chà Bàn - Phan Rang. Người Chăm mất đất là sự thăng trầm của lịch sử.
- Văn hóa: người Chăm chịu ành hưởng của văn hóa Ấn Độ. Đông Nam Á là nơi có nền văn hóa bản địa thống nhất trên cơ sở văn minh lúa nước. Sau khi văn minh bản địa hình thành và phát triển, Đông Nam Á chịu tác động của Ấn Độ, Trung Hoa. Trên nền tảng văn hóa đó, cư dân tiếp thu văn hóa khác tạo thành văn hóa có bản sắc riêng biệt. Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa bị Trung Hoa tác động vào một cách cưỡng bức song song với tự nguyện. Thời Bắc thuộc, giáo dục chỉ phát triển ở tầng lớp trên, không phát triển ở tầng lớp dưới. Nó độc lập một cách chủ động (theo trình độ phát triển). Cư dân Đông Nam Á coi trọng Tết, đánh dấu thời vụ nông nghiệp. Họ ở nhà sàn, ăn trầu cau, nhuộm răng và theo 3 tôn giáo lớn.
b. Quốc gia Phù Nam:
Quốc gia cổ Phù Nam hình thành từ thế kỷ I, phát triển từ thế kỷ III - thế kỷ V, suy tàn vào thế kỷ VII. Dấu vết của nó tìm thấy ở Óc Eo. Hiện nay người ta vẫn còn tranh cãi xem đất Nam Bô là thuộc chủ quyền của Việt Nam hay Campuchia. Người Campuchia cho rằng Phù Nam là quốc gia đầu tiên, Chân Lạp là nối tiếp của Phù Nam nhưng sự thực, Nam Bộ từ thế kỷ I - XVII là thuộc Chân Lạp. Chân Lạp có bộ máy nhà nước quản lý người Khmer nhưng thực ra chưa quản lý hết được họ. Trước thế kỷ VII, toàn bộ vùng đất Nam Bộ là một phần lãnh thổ của đế quốc Phù Nam.
Việc xác định lãnh thổ Phù Nam hiện là một vấn đề khó. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Phù Nam trước đây là một đế quốc rộng lớn với trung tâm của nó là đồng bằng Nam Bộ, một phần Campuchia và một phần lãnh thổ của Champa, các nước phiên thuộc Phù Nam là hơn 10 nước (trong đó có Malay, thế kỷ IV - V). Khi Phù Nam suy yếu, người Chân Lạp mạnh lên đi xâm lược Phù Nam làm họ lui về nơi ở cuối cùng là Gò Tháp. Phù Nam suy tàn, các dân tộc từ phía Tây Nguyên di cư vào Đông Nam Bộ và định cư ở nơi này (người Mạ, người Stieng) và trở thành dân tộc chủ thể ở đây. Theo Malleret, Óc Eo là thời kỳ sớm của Campuchia. Sihanouk đòi Nam Bộ thuộc Campuchia với lý do đất này có người Khmer sinh sống (có cây thốt nốt), nhưng sự thật Phù Nam bị Chân Lạp thôn tính. Vùng đất Nam Bộ người Khmer không sử dụng vì co chim kêu nhiều làm người ta thấy sợ, đầm lầy hoang vu nên không khai khẩn, các cửa sông như Trà Vinh, Hà Tiên có nhiều cá. Phù Nam suy tàn do Nam Bộ có địa chấn. Óc Eo là cảng thị do cư dân ngoài đô thị tràn vào, thao túng bộ máy nhà nước làm nó suy tàn, Óc Eo mất dần vị trí là trung tâm trung chuyển. Mặc khác dân số Khmer ít, nó đòi Nam Bộ phải thuộc Campuchia do có dấu tích ở nơi đây (Óc Eo, Chân Lạp). Nó chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhưng có nét riêng.
+ Kinh tế - xã hội:
- Kinh tế: làm đủ các nghề thuộc về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp
- Chính trị: thiết chế chính trị quân chủ
- Văn hóa - xã hội: ở nhà sàn, xây dựng các công trình phục vụ tôn giáo. Đi lại là thuyền, voi ngựa, phụ nữ mặc váy sarong, nam ở trần đóng khố (sampot) theo Balamon, Phật và có tục hỏa táng người chết. 


Chương 4: Việt Nam thời kỳ độc lập - tự chủ
1. Họ Khúc, họ Dương

2. Họ Ngô
Sau khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, ông xưng Vương (khác vua). Trước ông là Khúc Thừa Dụ. Sau khi giành được chính quyền năm 905, để bảo vệ nền độc lập vừa giành được thì ông tránh sức ép của nhà Đường (sau là Ngũ đại - Thập quốc), ông chọn giải pháp thỏa hiệp, đặt mình dưới sự quản lý của phong kiến Trung Quốc. Chính quyền Trung quốc không đủ sức can thiệp vào nước ta nữa nên đồng ý với chủ trương của ông. Chủ trương của Khúc Thừa Dụ là phù hợp, xét về thực lực và hình thức thì khác Trung Quốc. Ông làm quan cai trị cho Trung Quốc, nhưng thi hành chính sách có lợi. Thời Khúc Hạo, ông đem đến quyền tự chủ cho nhân dân. Tự chủ là quốc sách của nhà nước Việt Nam không chịu sự chi phối của Trung Quốc, tự chủ có ý nghĩa. Việc làm của họ Khúc đã mở đầu thời kỳ độc lập đang đến. Kết thúc Khúc Hạo, thời Thừa Mỹ thì suy yếu làm quân Nam Hán kéo sang xâm lược, nhưng quân Nam Hán bị Ngô Quyền đánh tan tành bên cửa sông Bạch Đằng vào tháng 11/938. Chiến thắng Bạch Đằng của ông chính thức là mốc kết thúc thời kỳ Bắc thuộc, mở đầu thời đại tự chủ - độc lập ở nước ta.
Sau khi giành độc lập cho đất nước, Ngô Quyền xưng vương. Việc ông nắm chính quyền và xưng vương đã tỏ ra tính dè dặt do chưa đủ nội lực (chấp nhận để Trung quốc công nhận để tránh sức ép của chúng). Ông giành thắng lợi, tuy nhiên do nhận thấy không đủ sức nên xưng vương là phù hợp. Ở Trung quốc, hoàng đế là số một, cao hơn chư hầu => xưng vương. Khái niệm độc lập có nhiều cách, nhưng cách phổ biến nhất là độc lập nhằm cho ra đời chính quyền, thể hiện mọt bước tiến lớn, vì đây là kết quả của suốt 1000 năm Bắc thuộc đấu tranh, tìm tòi và đúc kết kinh nghiệm lại.
Ngô Quyền lên ngôi vua ở một đất nước đang trong tình trạng tương đối độc lập. Thời Bắc thuộc, chính quyền Trung quốc mới đặt quyền thống trị ở trung ương, còn ở các địa phương thì tương đối độc lập và không phụ thuộc vào chính quyền Bắc thuộc => đất nước không thống nhất. Nhà Nam Hán mất kiểm soát sau khi chiếm nước ta cũng giống như Ngô Quyền sau này, không kiểm soát được toàn bộ đất nước. Thời Tiền Lê, cục diện cát cứ ngày càng lớn (Lê Hoàn khó kiểm soát). Các vùng khác độc lập làm trung ương khó kiểm soát. Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành độc lập cho đất nước không có nghĩa là ông đã kiểm soát các lãnh thổ khác nhau trong đất nước, bù lại ở các địa phương thì tình trạng cát cứ đang diễn ra liên tục.
Chính quyền họ Ngô khi nắm quyền phải xóa bỏ cát cứ mới tạo sự ổn định. Theo quy luật chung, khi chính quyền trung ương suy yếu thì cát cứ diễn ra là chuyện bình thường. Vào thế kỷ X khi nước ta tạm thời tự chủ, nhiều thế lực nổi lên cát cứ chống lại chính quyền trung ương, lực lương của Ngô Quyền là mạnh nhất và ông chiến thắng và lên cầm quyền. Tuy nhiên, chính quyền của ông chưa thực sự thống nhất, cát cứ hình thành và nhiều cuộc nổi loạn thường xảy ra. Thậm chí một số thế lực còn đưa người trà trộn vào chính quyền, nhằm mục đích phá hoại chính quyền mà việc Dương Tam Kha lên ngôi là ví dụ cụ thể. Tam Kha (anh vợ của Ngô Quyền) được một số thế lực cát cứ đưa lên nắm quyền đã nổi loạn, thao túng chính quyền trung ương làm nó dần suy yếu. Tam Kha và hai cháu của mình là Xương Ngập và Xương Văn lên cầm quyền chưa biết, chưa nắm rõ tình hình đất nước lúc này có cát cứ ở địa phương. Nhiều cuộc nổi dậy của các thế lực này diễn ra liên tục, nhưng chính quyền không dẹp nổi. Các thế lực cát cứ phát triển càng mạnh làm xuất hiện cục diện 12 sứ quân. Định Bộ Lĩnh có tài, có bản lĩnh nên dễ dàng thu phục, sát nhập và liên kết các sứ quân thành lực lượng thống nhất. Còn Ngô Quyền cũng có tài nhưng chưa thu phục nhân tâm của đất nước. Ông chết rồi, quần thần và các con không biết nghe ai, vừa hoang mang, không nói nhau nghe được.

3. Họ Đinh - Tiền Lê
Đinh Bộ Lĩnh là người giỏi và có tài. Trước cục diện 12 sứ quân, từ một lực lượng nhỏ ông đã đóng quân ở Hoa Lư, chiêu dụ sứ quân Trần Lãm cho minh mượn nơi dây làm căn cứ chính, từ đó chinh phục các sứ quân khác. Trong quá trình chinh phục các sứ quân, ông tìm cách thu phụ người tài ra giúp ông trong đó có Lê Hoàn, Phạm Hạp, Đinh Điền... để tạo thành sức mạnh lớn dưới ngọn cờ của một vị minh chủ có sức mạnh vô địch. Ông đi đến đâu đều phô trương sức mạnh, thanh thế của mình làm quy tụ người khác theo mình. Ông quy tụy nhiều người tài, sử dụng thanh thế của mình để uy hiếp, hợp nhất lãnh thổ. Ý muốn của kẻ mạnh là mệnh lệnh của kẻ yếu. Những người có tài đều được ông thụ phục nên trở về dưới ngọn cờ của ông, họ muốn tìm sự che chở, tạo dựng sự nghiệp. Thế lực của ộng trở nên hùng mạnh, trấn áp các thế lực khác để dẹp cát cứ, tiến hành hợp nhất lãnh thổ. Việc xóa bỏ cát cứ, tạo sự cố kết để hình thành quốc gia thống nhất phải mất thời gian dài, phức tạp.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh xưng Đế. Khúc Thừa Dụ xưng là tiết độ sứ (quan của Trung quốc), Ngô Quyền xưng vương (độc lập, ứng biến), Đinh Bộ Lĩnh xưng Đế là ngang hàng với Trung quốc. Về tên nước, nhiều tài liệu gọi là Đại Việt, nhưng nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào chữ viết thì gọi là Đại Cồ Việt => chấp nhận tên Đại Cồ Việt (Cồ, Đại có nghĩa là lớn). Nhưng đến năm 979, ông bị Đỗ Thích (do Thích mơ thấy sao sa vào miệng, điềm báo minh làm vua) sát hại. Triều đình đưa con ông là Toàn lên ngôi. Nhưng thực ra trong triều đình, vua có quyền hành lớn và sau vua còn có một bộ máy nhà nước (có một phái ủng hộ, một phái chống đối). Việc Đinh Toàn được đưa lên ngôi là do sau ông có cả một quyền lực của những người đưa ông lên. Những người nắm quyền lực nhiều nhất lúc đó là Lê Hoàn, Dương Vân Nga. Lê Hoàn thống lĩnh quân đội (1 triệu quân), nắm nhiều quyền lực nên đưa Đinh Toàn lên nắm quyền là chuyện bình thường. Trong thời gian Toàn nắm quyền, Lê Hoàn ngày cang thâu tóm nhiều quyền lực hơn. Nhà Đinh suy yếu, nhà Tống ở Trung quốc đe dọa xâm lăng nước ta. Trong lịch sử, Việt Nam yêu thì Trung quốc kiếm cớ xâm lược, còn Việt Nam mạnh thì yên ổn, không có vấn đề gì. Nhà Đinh suy yếu, lộn xộn, vấn đề trên được đặt ra.
Lê Hoàn thâu tóm quyền lực vì ông ý thức được tâm lý của dân tộc (cần phải làm việc đó). Ông thâu tóm quyền lực, sau lưng còn có Dương Vân Nga. Hai người có quan hệ với nhau từ khi Đinh Bộ Lịnh còn đang nắm quyền. Khi Lê Hoàn cầm quyền thì quyền lực dần rơi vào tay họ Lê, sau ông còn có nhiều người khác muốn nắm quyền. Họ Đinh xung khắc họ Lê do phe phái, mâu thuẫn. Lê Hoàn suy nghĩ, nếu như đứng dưới vỏ bọc là Đinh Toàn thì quá phức tạp và có nguy cơ bị Tống xâm lược nên ông quyết định "cướp ngôi" họ Đinh, thực chất là cuộc chuyển giao quyền lực nhẹ nhàng không đổ máu. Việc ông lên ngôi là phù hợp với yêu cầu của đất nước, thể hiện được ý nguyện của nhân dân và cả những người ủng hộ ông lên nắm quyền
Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi đã tiến hành kháng chiến chống Tống, Champa và nỗ lực xóa bỏ cát cứ, đặt biệt ở các vùng núi xa trung ương có tính tự trị cao. Ông có 13 con, trong đó là có 11 con trai và ông thực hiện chính sách phân phong đất đai cho các con. Chính chính sách này đã bị các thế lực cát cứ lợi dụng, họ tìm cách lôi kéo các con của Lê Hoàn về phía mình để cát cứ chống lại trung ương. Sau khi ông mất, các con ông được sự giúp đỡ của các thế lực cát cứ tiến hành cuộc chiến tranh giành ngôi 8 tháng đầy quyết liệt. Sau cuộc nội chiến 8 tháng, cuối cùng Lê Long Đĩnh đại thắng và giành được ngôi vua. Đĩnh là người độc ác, tàn nhẫn và có tính cách dứt khoát do bị các thế lực bên dưới chi phối. Triều của họ Lê có quyền lực từ cuộc đảo chính (sau ông có nhiều người). Nhiều người ủng hộ ông lên ngôi => bộ máy nhà nước của nhiều người khác nhau. Nhà Lý, Trần, Hồ và Lê sơ đều tranh thủ lực lượng, có tài biết sử dụng người tài. Lê Lợi lên ngôi là nghi kỵ, sát hại người tài giỏi. Lê Long Đĩnh lên ngôi trong tình huống không bình thường (giành giật ngôi vua), không trăn trở, day dứt => ngang tàng. Năm 1009, Lý Công Uẩn nổi lên bắt đấu có vai trò quan trọng trong triều đại Long Đĩnh. Ông có bản lĩnh, dám nghĩ dám làm và có đứt độ: sống trong nhà chùa, trưởng thành trong gian khó nên tìm thấy trong số đông các thế lực trong triều đình có tiếng nói chung. Trong hoàn cảnh quyền lực rơi vào tay đình thần, chính quyền suy yếu nên vai trò nhà sư nổi lên với Lý Công Uẩn, có tài năng, đức độ và đã quy tụ được nhân dân.

4. Họ Lý:
Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, chứng tỏ ông có tầm nhìn về vị trị chiến lược của Thăng Long. Khi Lê Hoàn mất, nhà nước không kiểm soát được đất nước, các địa phương độc lập và các nhóm chống đối triều đình còn nhiều. Trong một đất nước chưa phát triển thì việc định đô ở Hoa Lư là phù hợp bởi nơi đây có địa thế hiểm trở thuận lợi cho phòng thủ, thích hợp với thời kỳ đầu, về mặt ảnh hưởng thì Hoa Lư không bằng Đại La. Việc ra đời Chiếu dời đô của Lý Thái tổ là thể hiện rõ Thăng Long là nơi có địa thế thuận lợi "rồng cuộn hổ ngồi", xứng tầm là thủ đô lâu đời của nước ta. Trên Trái đất, Việt Nam là nước có nhiều kinh đô. Thăng Long là trung tâm đất nước vì phía bắc giáp Trung quốc, phía nam là Đèo Ngang. Đất nước là quốc gia nông nghiệp nên Thăng Long thực sự là trung tâm thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông thuận lợi (chặn các cuộc tấn công của giặc khi đất nước suy yếu. Chính quyền mạnh nên dời đô ra những nơi hội tụ được 4 phương, thuận lợi cho việc quản lý đất nước, giao thông và kinh tế, địa thế thuận lợi. Việc dời đô là quan trọng và Thăng Long là kinh đô nước ta (tồn tại chính thức), nhà Mạc dời đô về Cao Bằng (không có giá trị về mặt đất nước) ý thức phong kiến khó có thay đổi. Nhà Hậu Lê tồn tại dai dẳng, Nguyễn Huệ khi tiến quân ra bắc dẹp họ Lê - Trịnh, nhưng thực tế không đụng tới nhà Lê do Huệ sợ lòng dân. Triều đại chỉ tồn tại khi lòng dân theo và thuận theo, còn triều đại mục nát suy yếu thì lòng dân không tuân theo được. 
Năm 1054, Lý Thánh tông đổi tên nước thành Đại Việt, trước đó là Đại Cồ Việt. Triều Lý có 8 vua, bắt đầu là Thái tổ, Thái tông.... kết thúc là Chiêu Hoàng. Các vị vua đầu tiên đều có đóng góp với đất nước, góp phần hình thành chế độ phong kiến Việt Nam phát triển, đạt nhiều thành tựu. Một số tài liệu nhận định rằng chế độ phong kiến là lạc hậu, cản trở sự phát triển của xã hội nhưng thử nghĩ lại, nếu không có chế độ phong làm sao có sự phát triển đó ? Chúng ta nhìn vào sự phát triển. Phong trào đấu tranh của nhân dân (chính nghĩa, phi nghĩa) theo quan điểm giai cấp. Nhà Lý phát triển đến thời Cao tông thì suy yếu là quy luật lịch sử. Nhìn lại lịch sử ta thấy không có vương triều nào tồn tại vĩnh cửu, đều theo quy luật sinh - trưởng - suy. Thời Lý, vương triều mới được hình thàh do công sức của tập thể, ngôi vị và tập ấm. Bộ máy nhà nước thời Lý chưa hoàn chỉnh. Muốn hoàn chỉnh nhà nước trước tiên phải có bộ máy hoàn chỉnh, có luật pháp, quân đội. Thời Lê Hoàn thì ông có tham khảo luật của nhà Tống nhưng không đủ khả năng áp dụng. Về mặt khoa học, thiết chế phong kiến phương Đông tồn tại chế độ làng xã riêng. Văn hóa Trung Quốc vào nhưng không được người Việt tiếp thu, nhưng sau khi độc lập lại được người Việt tiếp thu, chọn lọc cho phù hợp tình hình nước ta.
Một vấn đề đặt ra là nhà Lý tham khảo luật Trung Quốc, mà lúc trước thời Đinh - Tiền Lê, vua đặt ra luật pháp tùy tiện. Ý vua là luật pháp. Về sau khi nước ta phát triển lên, chính quyền ta chủ động tiếp thu văn hóa Trung hoa, ban hành luật pháp. Luật pháp đăt ra nhiều vấn đề phù hợp với đất nước, nhân dân và đươc nhân dân thực hiện nghiêm túc. 
Nhà Lý suy vong là do chính quyền bị ngoại tộc thao túng. Các vua Lý sử dụng quan lại không thống nhất, chủ yếu dùng nhiều người ngoại tộc vào nắm chính quyền, thao túng làm sụp đổ chính quyền. Thời Trần, rút kinh nghiệp từ nhà Lý, Trần Thủ Độ thực hiên hôn nhân nội tộc nhằm loại bớt việc ngoại tộc tham gia chính quyền, dẫn đến chính quyền họ Trần có yếu điểm là làm  các nhóm quyền lực bị phân rã.
Vương triều phát triển đòi hỏi bộ máy nhà nước vững mạnh, thu hút nhiều nhân tài => phát triển khoa cử, tập ấm và tiến cử. Giai đoạn đầu, các vua thực hiện chế độ tập ấm (cho con cháu dòng tộc, người có công hưởng tập âm, về sau thì nhân lên) => suy yếu nội bộ chính quyền. Đất nước phát triển đòi hỏi quản lý hiệu quả nhưng quan lại trong triều đình (nội tộc) không đủ mà phải dùng người ngoại tộc đưa vào. Về sau, ngoại thích thâu tóm quyền lực, thực hiện chế độ tiến cử người của mình vào chính quyền, lũng đoạn làm chính quyền trung ương nhà Lý suy yếu. Người tiêu biểu nhất là Trần Thủ Độ (ngoại thích được người họ Lý đưa vào chính quyền). Ông có tài, có nhiều mối quan hệ với dòng tộc vua Lý và bên ngoài nên về sau được vua ưu ái, cho giữ chức quan trong và trở thành trụ cột chính của họ Lý. Ông suy nghĩ, tìm cách làm sao cho họ Trần được vào chính quyền mà không mất công sức nào, khi lúc này Nho giáo dần dần có ảnh hưởng sâu vào nước ta và tư tưởng trung quân của nó chưa ăn sâu vào tâm thức người Việt ? Để tìm câu trả lời, Thủ Độ tìm cách len lỏi vào trong nội bộ nhà Lý, trong hoàn cảnh đất nước đang yên bình. Thủ Độ tiến hành những công việc đó một cách chậm rãi, từ từ và chắc chắn. Ông hội tụ những điều kiện cần thiết chuẩn bị cho cuộc chuyển giao quyền lực buộc vua cuối cùng là Chiêu Hoàng nhường ngôi cho cháu là Cảnh. Trong bối cảnh đó, nhân dân và thế lực cát cứ dần quy thuận nhà Trần, họ Lý bị loại dần.
Vấn đề nhà nước khuyết khích Phật giáo phát triển. Có 5 nội dung chính:
- Nhà nước có chính sách khuyến khích Phật giáo phát triển
+ Lý Công Uẩn xuất thân là nhà chùa nên khi ông lên tạo điều kiện cho tôn giáo này phát triển. Phật giáo phát triển có cơ sở xã hôi vững chắc. Phật giáo có vị trí từ thời Đinh - Tiền Lê, trong khi trước đó vào thời Bắc thuộc, Việt Nam bị nội thuộc, nhân dân mất nước tìm chỗ dựa, và nhà chùa trở thành nơi nuôi dưỡng và không thể thiếu.
+ Nhân dân mất nước, tìm chỗ dựa nên giáo lý nhà Phật trở thành chỗ dực đang tin cậy của họ. Các cuộc đấu tranh diễn ra tổng hợp dưới màu sắc Phật giáo diễn ra quyết liệt. Khi chính quyền thành lập, vua quan còn quản lý đất nước hẹp (dưới đao kiếm) chủ yếu là đấu tranh, ngoài ra để nhà nước được vững chắc, chính quyền đã dùng tôn giáo như một hình thức quản lý đất nước bằng tinh thần. Tôn giáo được chính quyền lựa chọn lúc đó là Phật giáo, và nó thực sự làm chỗ dựa cho thể chế nhà nước mới sắp được hình thành. Giáo dục là thiết thực nên chính quyền mời nhà sự hỗ trợ mình về tổ chức chính quyền, giáo dục. Trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập, nền giáo dục chưa định hình nên nhà chùa là nơi thực hành giáo dục, bảo tồn các giá trị văn hóa. Nhà nước chưa có giáo dục, nhà sư là người có tri thức nên được tuyển dụng vào chính quyền, giáo dục và điều đó có tác dụng rõ rệt, đáp ứng yêu cầu của nhà nước. Dưới thời Đinh - Tiền Lê, nhà sư là bộ phận không thể thiếu. Nhà Lý trân trọng Phật giáo, nâng Phật giáo lên cao.
- Phật giáo tham gia vào bộ máy nhà nước, cụ thể là Tăng quan. Nhà sư là cố vấn, quốc sư vì họ có điều kiện (chiến tranh là số 1). Phât giáo càng phát triển thì nhà sư càng có uy tín lớn nên được nhân dân ủng hộ, nhà nước chính trị thuận lợi. Nhà vua cần uy tín, trí tuệ của quần thần và của chính minh, nên khi thấy Phật giáo phát triển và phổ biến trong nhân dân thì đưa nhà sư vào làm Tăng quan, để nhận được sự ủng hộ của họ cho chính quyền làm chính quyền vững mạnh hơn và ngược lại.
- Nhà chùa là trung tâm văn hóa, giáo dục. Khi giáo dục phong kiến phát triển thì nhà nước quan tâm ở trung ương, còn địa phương (làng xã) thì do nhà chùa quản lý (giáo dục chuẩn mực xã hội, đạo đức). Nhà nước sử dụng giáo lý Phật giáo là chuẩn mực xã hội. Xã hội Việt Nam nền tảng là làng xã (hệ thống hương ước làng xã) thách thức trung ương, là nơi lưu trữ các giá trị đạo đức. Luật pháp là chuẩn mực tối thiểu (có giới hạn), đạo đức là chuẩn mực tối đa. Nhà Lý có luật pháp, hương ước là quan trọng. Đạo đức có Nho - Phật và Phật là số một, Nho giáo chỉ định hình. Khi xã hội chưa phát triển, kém văn minh thì con người ứng xử với nhau dẫn tới hình thành chuẩn mực => xã hội lý tưởng. Thời nguyên thủy, con người thương yêu nhau nên tồn tại. Khi xã hội phát triển, nhà nước đặt ra luật pháp để ràng buộc xã hội. Chuẩn mực xã hội được phổ biến trong pháp luật. Xã hội phát triển thì Nho giáo dần phát triển thành chuẩn mực xã hội chủ đạo vì chuẩn mực của nó rõ ràng (quy ước), xã hội ổn định. Thời Lý - Trần vua với dân gần gũi nên Phật giáo hòa vào giúp nhà nước phát triển. Vua tiếp nhận hết những giáo lý của nó và áp dụng phù hợp với tình hình đất nước. Về sau khi nhà nước phát triển lên chuyên chế trung ương tập quyền, để quản lý chặc chẽ Nhà nước đưa Nho giáo lên thống trị và Phật giáo bị đẩy ra khỏi chính trường (Tam giáo đồng huyết). Nho giáo vươn lên thành chuẩn mực, điều khiển quan hệ và ổn định chính trị.
- Giáo lý Phật giáo là chuẩn mực xã hội, vì nó phù hợp với xã hội thời bấy giờ. Phật giáo phù hợp với chuẩn mực xã hội, được xã hội tiếp nhận.
- Sự tiếp nhận của nhân dân. Trong điều kiện nhà nước hòa bình, chính quyền tiếp nhận, ủng hộ Phật giáo phát triển, xây dưng nhiều chùa chiền. Với chức năng là nơi lưu giữ giáo lý Phật giáo, nhà chùa tiếp nhận Phật giáo và mở rộng ảnh hưởng ra làng xã và được nhân dân ủng hộ và tiếp thu. Nhà chùa sinh hoạt tôn giáo nen nó là nơi truyền bá văn hóa, phát triển cộng đồng xã hội nên được nhân dân ủng hộ.
5. Họ Trần - Hồ:
* Cải cách Hồ Quý Ly
Nhà Trần rút kinh nghiệm sau sự kiện nhà Lý mất, rồi quyết định:
- Quý tộc Trần thực hiện nội hôn (Trung quốc có nội hơn, xem trong Hồng Lâu Mộng) đảm bảo quyền lợi và ngôi vua không bị rơi vào tay ngoại thích.
- Tránh những biến động chính trị khi vua qua đời (Lê Hoàn mất => nội loạn xảy ra), thực hiện chế độ Thái thượng hoàng.
- Mở rộng khoa cử để tuyển dụng quan lại. Nhà Trần có 12 vua, mở đầu là Thái tông (do Thủ Độ sắp đặt để lên ngôi trong hoàn cảnh thuận lợi), Hồ Quý Ly cũng thực hiện cải cách như Thủ Độ, nhưng hoàn cảnh không thuận lợi nên thất bại.
Sự ổn định đất nước được duy trì đến thời Dụ tông thì suy yếu. Yêu cầu nhà nước phức tạp đòi hỏi phải có chuẩn mực mới thay thế Phật giáo, và Nho giáo chính thức dần thay thế trở thành chuẩn mực do tư tưởng, quy định của nó phù hợp với tổ chức xã hội, phục vụ cho việc củng cố quyền lực ở trung ương, được trung ương sử dụng để quản lý xã hội. Hồ Quý Ly rất giỏi, xuất thần từ khoa cử, dùng quan hệ hôn nhân để dần dần len lỏi vào chính quyền họ Trần. Đất nước bị sức ép bên ngoại, họa xâm lược của nhà Minh mà nhà Trần lúc này suy nhược lắm nên Quý Ly tiếm ngôi vua chỉ còn là vấn đề thời gian. Hồ Quý Ly sắp xếp mọi việc (kể cả việc phế lập các vua), tập trung mọi quyền lực trong tay. Quý tộc Trần chống đối, nhà Minh kiếm cớ xâm lăng nên Quý Ly dùng quyền lực tối thượng của mình, ra tay phế cháu ngoại là Thiếu đế rồi tự lập lên ngôi. 
Hồ Quý Ly có bất lợi là ông lên ngôi trong hoàn cảnh nhân dân bất phục chính quyền (nhất là vụ Quý Ly cướp ngôi làm họ phẫn nộ), ông bị phê phán thậm tệ. Nhà Trần có gắn bó với nhân dân nên có uy tín lớn. Các vua Trần để lại sự ủng hộ của nhân dân, củng cố vững chắc chuẩn mực đạo đức Nho giáo, nên nhân dân ủng hộ nhiệt tình và không có chống đối. Hồ Quý Ly hành động thực tế hơn, không chần chừ đã tiến hành cướp ngôi nhà Trần => mất sự ủng hộ của nhân dân, sát hại quan lại họ Trần => lên ngôi chịu nhiều sức ép lớn. Lên ngôi ít lâu, họ Hồ nhận chức chư hầu và đã phải chịu sức ép từ nhà Minh ở Trung quốc. Nhà Minh kiếm cớ xâm lược, vi phạm nguyên tắc tôn chủ - chư hầu trong quan hệ ngoại giao Việt - Trung thời phong kiến. Theo nguyên tắc này thì tôn chủ bình đẳng với chư hầu, không được xâm phạm chủ quyền của chư hầu và bảo vệ chư hầu khỏi sự xâm lăng bên ngoài, bảo vệ sự triều cống đều của chư hầu với tôn chủ (thể hiện tinh thần là nhiều), thể hiện sự thần phục của Đại Ngu với nhà Minh Trung quốc. Thiên triều ban phát vât phẩm cho chư hầu và chư hầu phải triều cống đều đặn, không sơ suất gì.
Hồ Quý Ly bị nhiều sức ép ở trong nước và ngoại bang. Trước tình cảnh đó, ông tiến hành cải cách khởi phát vào cuối thế kỷ XIV thời vua Nghệ tông nhà Trần, cải cách này diễn ra tổng thể trên nhiều mặt của cuộc sống nhân dân. Ông kết thúc vương triều cũ, khởi đầu vương triều mới bằng những biện pháp, cách thực cải cách mới. Trong hoàn cảnh đó, hành động của ộng chỉ là giải pháp tình thế. Các cải cách chính của ông:
+ Kinh tế: 
- Phát hành tiền giấy (phù hợp trình độ phát triển) thay đổi vật chất và là trọng tâm lớn của cuộc cải cách. Tiền là vật ngang giá, không phải nhu cầu của con người làm của cải để tiêu dùng. Ông gom đồng để làm súng (xuất phát từ thực tiễn và có giá trị), nhân dân phản ứng quyết liệt (chưa có nhu cầu phải thay đổi).
- Phát triển nông nghiệp, thúc đẩy thương nghiệp phát triển.
+ Văn hóa: đề cao chữ Nôm. Chữ Nôm của ông là sự đề cao tinh thần dân tộc, khẳng định sự độc lập về văn hóa, ngôn ngữ. Nho giáo là tư tưởng được khẳng định (xã hội đòi hỏi chuẩn mực; Phật giáo tỏ ra lỗi thời và không phù hợp với tình hình lúc đó. Nho giáo đi vào khẳng định sự phân chia đẳng cấp, được lồng ghép vào từng bước. Địa phương phát triển theo hướng đích thực tinh thần, không là thiết chế, Nho giáo là chuẩn mực và là công cụ điều chỉnh xã hội)
+ Đối ngoại, đánh Chiêm Thành, cắt đất cho nhà Minh (Hồ bị suy yếu, không phải là cách làm hay)
+ Quốc phòng: 
- Dời đô về Thanh Hóa (quê hương của ông) do có ngôi vị => tìm chỗ dựa ở nhân dân.
- Đặt tên nước là Đại Ngu do chịu ảnh hưởng tư tưởng nhà nước Trung quốc thanh binh thời Ngu Thuấn => có tham vọng xây dựng nhà nước hòa bình như thời Ngu Thuấn, phát triển
Thất bại của Hồ Quý Ly là tất yếu. Hồ Quý Lý rất giỏi, có tâm huyết nhưng không hợp thời. Ông gặp 3 bất lợi: lòng dân không theo, đất nước bị kẻ thù đe dọa dẫn tới nhà Minh xâm lược, sự chống đối bên trong của quý tộc họ Trần. Ông đơn độc đối phó với nhà Minh, không nhận được sự đồng thuận từ nhân dân.
=> Hồ Quý Ly có đủ trí tuệ để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo; nhưng thời cơ bất lợi nên ông thất bại.

6. Khởi nghĩa Lam Sơn và sự thành lập nhà Lê
Nhiều phong trào kháng chiến nổ ra. Đất nước lâm nguy, tinh thần đoàn kết trỗi dậy, nhất là Lê Lợi => số phận an bài, nhiều phong trào nổ ra và nhen nhóm nhiều lực lượng chống quân Minh lớn, quy tụ người yêu nước và dung hòa vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Nghĩa quân Lam Sơn nhỏ, trú đóng ở nơi có địa thế thuận lợi dễ phòng thủ, quy tụ lực lượng. Nghĩa quân quan hệ tốt với nhau, Lê Lợi khôn khéo: lực lượng mạnh thì phản công, lực lượng bị suy yếu thì ông cho củng cố lực lượng (không  xung đột với quân Minh). Nghĩa quân xuất hiện vào lúc lực lượng khác đã suy yếu => hội tụ, tụ hợp lực lượng (thiên thời). Lê Lợi có đấu tranh ngoại giao, quân sự; thắng quân địch thì ông đấu tranh quân sự - ngoại giao để giành độc lập hoàn toàn. Lê Lợi lên ngôi và cử người sang Trung Quốc xin phong vương, nhà Minh không chịu. Ông khéo léo đưa Trần Cảo sang xin phong vương và sau cuộc thương lượng kéo dài nhiều năm của minh với nhà Minh, Lê Lợi mới được vua Minh phong vương. Thế chúng ta mới thấy, Lê Lợi dùng hai giải pháp: quân sự - ngoại giao kết hợp, trên thế thắng để buộc kẻ thù sắp thua phải thừa nhận chiến thắng của mình và chúng phải rút quân về nước. Chúng ta đánh bại địch trên mặt trận quân sự, chừa lại mặt trận ngoại giao để "chơi" với địch; sự thật là trong cuộc chiến ở phương Đông, ngoại giao là độc đáo (cuộc chiến thường kết thúc là thắng lợi về ngoại giao). Việt Nam là nước nhỏ nên thắng lợi quân sự sẽ tạo điều kiện cho ngoại giao giành thắng lợi. 
Năm 1428, nhà Lê sơ được thành lập và giữ nguyên quốc hiệu là Đại Việt. Vua Lê tham khảo hình thức bộ máy nhà nước thời Trần, Hồ, nhà Minh (Trung Quốc) để xây dựng bộ máy nhà nước cho mình, thể hiện sự khoa học và văn minh (tổ chức chặt chẽ). Thời Lê, nhà nước hoàn thiện đến mức cao nhất (sau này thì nhà Nguyễn khôi phục lại). Luật pháp là quy định bắt buộc. Luật Hồng Đức 1483 có tham khảo luật Đại Minh (Trung quốc) nhưng có tính tiến bộ thể hiện sự sáng tạo: tôn trong phụ nữ, bảo vệ quốc gia và Nho giáo có áp dụng nhưng không triệt để trong bộ luật này. Thời Lê, Nho giao là chuẩn mực xã hội và khắc khe hơn, được thực thi nghiêm túc trong nhà nước, nhất là đào tạo bộ máy quan lại; quân đội được tổ chức theo kiểu: ngụ binh ư nông. Tính đoàn kết dân tộc được phát huy. Thời Trần có đoàn kết các dân tộc thiểu số bằng cách gả công chúa cho tù trưởng dân tộc, cử người thân tín trấn giữ biên ải; thời Lê là cử Lưu quan là những người thân tín đi quản lý vùng biên ải (quản lý chặt chẽ, cố kết chặt chẽ với dân tộc thiểu số để bảo vệ quốc gia). Sức mạnh trung ương đủ đạt đến mức độ cao, thu phục các dân tộc thiểu số và ngược lại.
Quan hệ Lê Lợi với người có công, lúc đầu thì trọng dụng người có công nhưng về sau những người có công chịu số phận bi thảm (phò vua => rút lui). Có 2 quan điểm: (1) Lê Lợi có tâm địa hẹp hòi, sợ người tài. Người giỏi có cá tính nên rất thạo việc, xong việc thì họ coi thường và rơi vào lao lý; (2) người có công thường có quyền lợi nhiều (người kề vai sát cánh với mình, ý trung nhân), họ được quản lý nhà nước và luật pháp; hô vi pham chẳng qua chỉ là chủ quan, kiêu ngạo (quyền lợi). Về tuyển chọn quan lại: Vương triều được lập lên do nhiều dòng họ gắn sức cùng Lê Lợi mà thành (gắn kết Vua - dòng họ rất mờ nhạt). Vua lên ngôi có nhiều quan lại, đại thần và tổ chức quan lại rất quan liêu (khoa cử, giáo dục). Khoa cử, tập ấm là phương thức tuyển chọn quan lại chủ yếu. Ai có cơ hội thì được làm quan (trừ con hát, tội phạm). Quan hệ Trung - Việt được cải thiện: Vua Minh công nhận Lê Lợi là Vua Đại Việt, thu phục Lợi làm chư hầu. Trung Quốc không còn sức nên bắt Lợi phải cống nạp, thể hiện sự thu phục. Phương thức ngoại giao của Lợi với nhà Minh là thần phục.































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét