Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Lịch sử Á_Phi_Mỹ latinh hiện đại 1


Lịch sử Á_Phi_Mỹ latinh hiện đại

1. Nguyên nhân phát triển kinh tế Hàn Quốc thập niên 60_70 ?
2. Cách mạng Lào, Campuchia từ 1945_những năm 70 của thế kỷ XX ?
3. Hoàn cảnh ra đời, nguyên tắc hoạt động của ASEAN ?
4. Đặc điểm phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi, Mỹ latinh sau Thế chiến thứ II ? Khó khăn của các nước châu Phi sau khi giành độc lập ?
5. Tình hình Trung Quốc từ 1945_1959 ?
6. Tình hình kinh tế Singapore 1965_1991 (nguyên nhân phát triển).
7. Khái quát phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á sau 1945.
8. Đặc điểm tình hình chính trị châu Á sau 1945. Vì sao các nước theo mô hình phương Tây lại thất bại ở châu Á ? 
9. Vấn đề giai cấp lãnh đạo trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX ở Đông Nam Á ?
10. Con đường phát triển của các nước Đông Nam Á sau khi giành độc lập ?
11. Hàn Quốc từ 1945 đến 1991 ?
12. Cuba từ năm 1945 đến năm 1991
13. Châu Phi từ 1945 đến 1991


Trả lời:

1. Nguyên nhân phát triển của kinh tế Hàn Quốc (thập niên 60_70 của thế kỷ XX):
  _ Thứ nhất, Sự viện trợ của Mỹ cho Hàn Quốc. Từ 1953 đến 1974 Mỹ viện trở khoảng 12,5 tỉ USD (tương đương với 40 - 50 tỉ USD theo thời giá hiện nay), trong đó viện trợ kinh tế là 5 tỉ USD. Những năm sau này Mỹ vẫn còn tiếp tục viện trợ tuy là có giảm đi. Các khoảng viện trợ của nước ngoài trong thời gian 1953 - 1962 chiếm tới 81% thu nhập của Hàn Quốc. Bằng ảnh hưởng của mình, Mỹ còn tạo điều kiện thuận lợi để Hàn Quốc vay các khoảng tiền lớn của các tổ chức quốc tế.  Ngoài ra, Mỹ còn cử các chuyên gia về kinh tế, ngân hàng sang trực tiếp cố vấn cho Hàn Quốc và hoạch định và thực hiện các chương trình phát triển. Những việc làm này của Mỹ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc khôi phục và tạo đà cho bước cất cánh của Hàn Quốc.
_  Thứ hai, sự tập trung quyền lực đã đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội – nhân tố quan trọng của phát triển kinh tế.
Thứ ba, tăng cường vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế và hoạch định các chính sách kinh tế (cả công nghiệp lẫn nông nghiệp). Nền kinh tế Hàn Quốc cơ bản được điều hành bởi chính phủ, do chính phủ hướng đạo… Chính phủ Hàn Quốc đang sử dụng “bàn tay hữu hình khỏe mạnh” của nó để thúc đẩy và tạo thuận lợi cho sự hoạt động của nên kinh tế thị trường.
Thứ tư, chiến tranh Việt Nam bùng nổ đã đem lại các cơ hội phát triển kinh tế cho Hàn Quốc. Một số người còn đi xa đến mức cho rằng, Việt Nam trở thành “Xứ sở vàng” của Hàn Quốc. Tham chiến bên cạnh quân đội Mỹ, lực lượng binh lính và sĩ quan đông đảo (khoảng 335.000 người thời kỳ 1965 – 1972), chủ yếu là người tình nguyện và lính đánh thuê, đã kiếm chác được không ít lợi ích về tài chính. Một số công chức đông đúc người Hàn (trên 100.000 người thời kỳ 1966 – 1969) làm việc trong các cơ sở kinh tế Mỹ hoặc các chi nhánh thầu khoán của các hãng Mỹ ở các cảng và các đơn vị xây dựng, sửa chữa căn cứ quân sự… cũng dần dà gặt hái được món tiền không nhỏ.
Thứ năm, truyền thống kỷ luật, yêu lao động và cầu tiến của người Hàn. Trong thời kỳ 1966 – 1972 người Hàn Quốc làm việc 55,6 giờ trong khu vực phi nông nghiệp, trong khi ở các nước khác, ví dụ nước Thái chỉ làm việc 47,2 giờ/tuần.
Cuối cùng, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ đã mang đến cho nền kinh tế Hàn Quốc, đặc biệt là ngành kinh tế công nghiệp những thành tựu kỹ nghệ tiên tiến (như hóa chất, điện tử….)

2. Cách mạng Lào, Campuchia từ 1945_những năm 70 của thế kỷ XX ?
  a) Cách mạng Lào từ 1945 – 1975:
Giữa tháng 8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh không điều kiện. Nắm thời cơ thuận lợi, ngày 23/8/1945, nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền. Ngày 12/10, Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và tuyên bố độc lập.
Tháng 3/1946, thực dân Pháp đưa quân tái chiếm Lào. Sau khi Thà Khẹt bị thất thủ, chính phủ cách mạng phải lưu vong sang Thái Lan. Pháp hoàn thành việc chiếm đóng các thành phố ở Lào. Vua Lào Sisavang trở lại ngôi và con ông ta là S. Vatthana làm thủ tướng bù nhìn, tay sai cho Pháp. Trước tình thế đó, chính phủ và các lực lượng kháng chiến Lào bị phân hóa.
Từ năm 1947, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, các chiến khu cách mạng dần dần được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào và Đông Bắc Lào. Ngày 20/1/1949, quân giải phóng nhân dân Lào “Latxavong” được thành lập do Cayxon Phomvihan chỉ huy. Ngày 13/8/1950, “Mặt trận Lào tự do” và chính phủ kháng chiến Lào được thành lập do Suphanuvong đứng đầu. Đến ngày 11/3/1951, liên minh Việt – Miên – Lào được thành lập nhằm đoàn kết với 3 dân tộc  Đông Dương chống lại kẻ thù chung là Pháp và can thiệp Mỹ.
Trong những năm 1953 – 1954, quân dân Lào đã phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào và Thượng Lào và giành nhiều thắng lợi to lớn, các tỉnh lớn như Xavanakhẹt, Khăm Muộn, Luông Prabăng… được giải phóng. Những cuộc tấn công này đã phối hợp chặt chẽ với chiến trường Việt Nam, đặc biệt là trận Điện Biên Phủ, góp phần vào chiến thắng chung của 3 nước Đông Dương. Hiệp định Giơnevơ (tháng 7/1954) đã thừa nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Lào, công nhận địa vị hợp pháp của các lực lượng kháng chiến Lào với một vùng giải phóng ở Sầm Nưa và Phongxali.
Ngay sau khi hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, Mỹ lập tức hất cẳng Pháp, âm mưu biến Lào thành thuộc địa kiểu mới. Từ đây, nhân dân Lào lại phải cầm súng chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ.
Trong những năm 1954 – 1975 cuộc đấu tranh cách mạng chống đế quốc Mỹ và ngụy quyền Lào trải qua 3 giai đoạn:
Từ 1954 – 1963: thời kỳ đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo lực phản cánh mạng của Mỹ và tay sai. Sau khi dựng chính phủ bù nhìn Katay, Mỹ viện trợ 50 triệu Đôla và quân lính để tiến hành đàn áp cách mạng Lào. Trong hai mùa khô từ 1954 – 1956, Mỹ sử dụng 14 tiểu đoàn (có cố vấn) đàn áp cách mạng Lào. Quân dân Lào đã phản công và giành nhiều thắng lợi giòn giã. Ngày 22/3/1955, Đại hội Đảng họp ở Hủa Phăn tuyên bố thành lập Đảng Nhân dân Lào. Tiếp đó, ngày 6/1/1956, Đại hội mặt trận Lào tự do họp đại hội quyết định đổi tên mặt trận thành mặt trận Lào yêu nước, lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân Lào trên 3 mặt: chính trị, quân sự và đàm phán nghị thương. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ đó, địch buộc phải ký hiệp định Viêng chăn lần thứ nhất, thành lập chính phủ liên hiệp lần thứ nhất và có sự tham gia thích đáng của mặt trận Lào yêu nước.
Ngày 18/8/1958, tập đoàn phản động Phui Sananicon lật đổ chính phủ liên hiệp, xé bỏ hiệp định Viêng chăn và tìm cách đàn áp cách mạng Lào. Quân dân Lào đã phản công và giành nhiều thắng lợi giòn giã, tiêu diệt hàng chục tiểu đoàn ngụy ở Nậm Thà và các chiến trường khác, buộc Mỹ và tay sai phải ký hiệp định Giơnevơ lần hai về Lào (23/7/1962) và công nhận chính phủ liên hiệp lần hai (thành lập do hiệp thương của đại biểu 3 phái ở Lào). Nhưng ngay sau đó, bọn phản động lại phá hoại hiệp định, phá vỡ liên minh 3 phái làm cho chính phủ không hoạt động được.
Từ 1964 – 1973: nhân dân Lào đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Giônxơn và “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Nixơn. Từ năm 1964, Mỹ tăng cường không quân, vũ khí, sử dụng các tiểu đoàn cơ động lớn nhằm đàn áp quân cách mạng Lào. Quân dân Lào đã phản công và giành nhiều  thắng lợi to lớn: chiến dịch Nậm Bạc (1968) đánh tan 4 binh đoàn địch mạnh; trận chiến Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (1970) loại khỏi vòng chiến đấu 6000 địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn; trận đánh đường 9 _Nam Lào (2/1971), liên quân Lào – Việt đập tan cuộc càn Lam Sơn 719, giải phóng toàn bộ cao nguyên Boloven. Tiếp đó, chiến dịch Cánh đồng Chum bắt đầu (12/1971), 3 tháng sau đã giải phóng một vùng rộng lớn với hơn 1 vạn dân.
Thất bại trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ và tay sai đã phải ký hiệp định Viêng Chăn lần thứ hai (2/1973) lập lại hòa bình ở Lào, kế đó Lào lập chính phủ liên hiệp lần thứ ba do Suphanuvong làm chủ tịch.
Từ 1973 – 1975: thời kỳ đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hòa bình. Đặc điểm của thời kỳ này là nước Lào tạm chia thành 3 vùng: vùng giải phóng của chính phủ cách mạng Lào, vùng kiểm soát của phái hữu của chính phủ phái hữu, vùng trung lập của chính quyền liên hiệp trung ương. Trước tình hình đó, Đảng và nhân dân Lào đã tiếp tục đấu tranh chính trị và pháp lý để buộc đối phương phải thi hành điều khoản trong hiệp định. Mùa xuân 1975, cuộc Tổng tiến công nổi dậy của quân dân Việt Nam thắng lợi đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Từ tháng 5 – tháng 12/1975, quân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.
Ngày 2/12/1975, nước Công hòa Dân chủ Nhân dân Lào chính thức thành lập. Từ đó, nước Lào bước sang thời kỳ mới – xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội.
    b) Cách mạng Campuchia:
Đầu tháng 10/1945, Pháp quay trở lại xâm lược Campuchia. Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1951 tách ra thành Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đã lãnh đạo nhân dân Campuchia tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Bước sang năm 1950, phong trào kháng chiến lan rộng đòi hỏi phải thống nhất tất cả các lực lượng cách mạng trong cả nước. Tháng 4/1950, Ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất (Mặt trận Khmer) và chính phủ kháng chiến, do Sơn Ngọc Minh đứng đầu, được thành lập. Tháng 6/1951, quân đội cách mạng Issarắc ra đời.
Ngày 9/11/1953, do cuộc vận động của vua Norodom Sihanuk, Chính phủ Pháp đã phải ký hiệp ước “trao trả độc lập cho Campuchia”. Tuy vậy, quân đội Pháp vẫn chiếm đóng Campuchia. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký hiệp định Giơnevơ về độc lập, chủ quyền 3 nước Đông Dương.
Từ năm 1954 đến 1970, chính phủ Sihanuc thực hiện đường lối hòa bình, trung lập, không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận sự viện trợ từ mọi phía và không có điều kiện ràng buộc. Nhờ có đường lối này, Campuchia có điều kiện đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục trong cả nước.
Sau cuộc đảo chính lật đổ Sihanuc ngày 18/3/1970 của thế lực tay sai thân Mỹ, Campuchia bị kéo vào quỹ đạo của cuộc chiến tranh thực dân  kiểu mới ở Campuchia. Trước tình hình này, cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược ở Campuchia phát triển mạnh khắp mọi miền đất nước. Ngày 23/3/1970 ở Ratanakiri, Mặt trân dân tộc thống nhất Campuchia được thành lập.
Từ tháng 9/1973, quân đội cách mạng Campuchia chuyển sang phản công và thắng lợi ở các thành phố lớn như Phnom Penh, Batdomboong, Udong… Xuân năm 1975, quân Campuchia mở rộng tổng công kích giành thắng lợi cuối cùng. Ngày 17/4/1975, thủ đô Phnom Penh được giải phóng cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Campuchia giành thắng lợi hoàn toàn.
Ngay sau đó, nhân dân Campuchia lại phải tiếp tục đấu tranh chống tập đoàn Khmer Đỏ do bọn Polpot cầm đầu phản bội cách mạng, thi hành chính sách diệt chủng làm 3 triệu người vô tội bị tàn sát dã man. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia (thành lập ngày 3/12/1978) cùng với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, quân dân Campuchia nổi dậy nhiều nơi. Ngày 7/1/1979, Phnom Penh được giải phóng, chế độ diệt chủng Khmer Đỏ bị tiêu diệt, Campuchia bước vào thời kỳ hồi sinh xây dựng đất nước.


3. Hoàn cảnh ra đời, nguyên tắc hoạt động của ASEAN ?
  a) Hoàn cảnh ra đời:
    Nửa sau những năm 60 của thế kỉ XX, tình hình khu vực Đông Nam Á và thế giới có nhiều biến chuyển to lớn:
+ Sau khi giành được độc lập, bước vào thời kì phát triển kinh tế trong điều kiện rất khó khăn, nhiều nước trong khu vực thấy cần có sự hợp tác với nhau để cùng phát triển.
+ Các nước cũng muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực.
+ Những tổ chức hợp tác mang tính khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt là những thành công của Khối thị trường chung châu Âu đã cổ vũ các nước Đông Nam Á tìm cách liên kết với nhau.
- 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của 5 nước gồm Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philíppin nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và văn hóa thông qua những nỗ lực hợp tác chung giữa các nước thành viên, trên tinh thần duy trì hòa bình và ổn định khu vực.
  b) Nguyên tắc hoạt động:
_ Tôn trong độc lập chủ quyền, bình đẳng và toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của các dân tộc.
_ Mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình mà không có sự can thiệp, lật đổ và cưỡng bức của bên ngoài.
_ Giải quyết bất đồng tranh chấp một cách thân thiện.
_ Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực của nhau.
_ Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.

Bên cạnh 5 nguyên tắc này còn tồn tại một số các nguyên tắc không thành văn, không chính thức song các nước đều hiểu và tôn trọng áp dụng, đó là nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội. 

Nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội: Các thành viên tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản là:
1) Nguyên tắc đồng thuận, tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên. Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN. 
2) Nguyên tắc bình đẳng: Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt, thứ nhất, các nước ASEAN không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lợi; thứ 2, hoạt động của ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các nước chủ toạ các cuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao cũng như địa điểm cho các cuộc họp đó đều được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A,B,C của tiếng Anh. 
3) Nguyên tắc 6-x, theo thoả thuận tại Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4 tại Xin-ga-po tháng 2/1992, theo đó 2 hay một số nước thành viên có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án của ASEAN nếu các nước còn lại mà chủ yếu là 4 nước gia nhập sau gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma chưa sẵn sàng tham gia nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực. Qua gần 40 năm tồn tại và phát triển, ASEAN đã phát triển dần từ một tổ chức chính trị khu vực có hình ảnh mờ nhạt, khả năng tồn tại yếu ớt thành một tổ chức chính trị-kinh tế khu vực đang lớn mạnh và thành công. Hiện nay, ASEAN là một trong các tổ chức khu vực có vai trò và vị trí nhất Vực duy nhất có mối quan hệ chặt chẽ,thường xuyên mang tính cơ chế với các nước công nghiệp phát triển, trong đó có 5 nước uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, 7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới. Khẳng đinh vai trò của ASEAN trên trường quốc tế, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan khẳng định: “Ngày nay, ASEAN là một thực thể hoạt động hiệu quả và không thể thiếu được trong khu vực, đây là lý do chính để liệt ASEAN có tầm ảnh hưởng ngoài khu vực, Hiệp hội là đối tác tin cậy của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực phát triển . . .” 

4. Đặc điểm phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi, Mỹ latinh sau Thế chiến 2 ? Khó khăn của các nước châu Phi sau khi giành độc lập .

a) Đặc điểm phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi:
_Phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi từ sau 1945 tuy đã phát triển rộng khắp và lên cao chưa từng có nhưng đã diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia và khu vực, thể hiện ở mức độ giành được độc lập, quy mô phong trào và hình thức đấu tranh. Nguyên nhân của tình hình đó là do trình độ phát triển kinh tế, chính trị ở các nước châu Phi rất khác nhau.
   + Bắc Phi: phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này phát triển sớm nhất, mãnh liệt nhất so với các khu vực khác. Các nước Bắc Phi (5 nước) có quan hệ kinh tế phát triển cao nhất so với toàn châu Phi; cùng chung dân tộc, chung đạo Hồi và chung truyền thống lịch sử - văn hóa. Vào đầu thập niên 50, các nước trong khu vực đã liên tiếp giành độc lập: Ai Cập (1952); Libi (1952), Maroc (1956)…
    + Tây Phi: phong trào giải phóng phát triển từ sau 1957, đánh đấu bằng sự ra đời của cộng hòa Ghana. Tây Phi gồm 10 nước thuộc Pháp và 4 nước thuộc Anh, có trình độ lạc hậu hơn so với Bắc Phi. Phong trào giải phóng ở các nước nói chung do tư sản dân tộc lãnh đạo và từ 1957 – 1960 đã giành thắng lợi ở nhiều mức độ khác nhau.
    + Nam Phi: gồm Tây Nam Phi (Namibia) và Cộng hòa Nam Phi. Năm 1884, Tây Nam Phi thuộc Đức; 1918 thuộc Hội Quốc Liên và 1920 thuộc Liên bang Nam Phi. Sau nhiều năm đấu tranh, tổ chức nhân dân Tây Nam Phi đã giành thắng lợi và năm 1989, Namibia giành được độc lập hoàn toàn. Ở Cộng hòa Nam Phi, cuộc đấu tranh chống chế độ Aparthai đã giành được sự ủng hộ của dư luận thế giới và chế độ này bị xóa bỏ vào năm 1994 trên đất nước này. Tháng 4/1994, lần đầu tiên trong lịch sử Nam Phi, Nelson Mandela đã trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Liên bang Nam Phi.
_Lãnh đạo của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi nói chung do giai cấp tư sản lãnh đạo. Ở châu Phi, giai cấp tư sản có tổ chức chính đảng của mình và có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Giai cấp công nhân tuy có tăng cường số lượng nhưng chưa trở thành lực lượng chính trị độc lập, trừ mọt vài nước ở Bắc Phi và Nam Phi. Tuy nhiên, nhiều tổ chức công đoàn đã ra đời ở hầu hết các nước và tổ chức liên hiệp công đoàn toàn châu Phi ra đời năm 1951.
_Trình độ phát triển kinh tế - văn hóa của các nước châu Phi nói chúng rất thấp kém. lạc hậu. Trước khi bọn thực dân xâm chiếm, đa số các nước châu Phi còn trong tình trạng bộ lạc, chưa hình thành dân tộc quốc gia. Do sự xâu xé của các nước đế quốc, châu Phi bị chia cắt thành nhiều vùng nhỏ, xen kẽ nhau. Châu Phi càng thêm lạc hậu, nghèo nàn và xung đột dân tộc kéo dài. Tuy nhiên, khác với châu Á và Mỹ latinh, phong trào giải phóng dân tộc châu Phi do một tổ chức cách mạng của nhiều nước phối hợp hành động, đó là Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) thành lập vào năm 1963, có vài trò rất lớn trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa...

+ Khó khăn của các nước châu Phi sau khi giành độc lập
sau chiến tranh, mặc dù các nước có sự phát triển mạnh về kinh tế, xã hội, nhưng hậu quả cảu chế độ thực dân để lại rất nặng nề: lạc hậu, yếu kém, đói, dốt, bệnh tật, xung đột sắc tộc, tôn giáo...
  _ Châu Phi là lục địa bất ổn nhất thế giới. Từ năm 1952 đến 1985, tại châu Phi đã nổ ra 241 lần đảo chính quân sự. Từ năm 1987 đến 1997, châu Phi đã nổ ra 14 cuộc xung đột và nội chiến làm hàng chục vạn người thiệt mạng, hàng triệu người đã phải ra tỵ nạn ở nước ngoài. Hiện nay, châu Phi có hơn 1000 dân tộc, trong khi đó với chính sách “chia để trị” của thực dân châu Âu, các dân tộc đã bị “xé” thành nhiều nhóm khác nhau, đó chính là nguyên nhân gây xung đột sắc tộc ở châu Phi. Mặc dù chính quyền ở một số nước đã cố gắng hòa giải dân tộc, nhưng xung đột vẫn kéo dài. Bi thảm nhất là cuộc nội chiến ở Ruanda năm 1994 giữa hai bộ tộc Hutu và Tuxi làm 800.000 người chết, hơn 1,2 triệu người phải tỵ nạn, trong khi dân số nước này chỉ có 7 triệu người.
   _ Châu Phi là châu lục đói nghèo nhất thế giới. Chỉ trong 10 năm, tỉ trong trong tổng giá trị buôn bán bị giảm từ 4,9% (1980) xuống còn 2,4% (1990). 32 trong số 57 nước của châu Phi bị Liên Hiệp Quốc xếp vào nhóm các nước nghèo nhất thế giới. Khủng hoảng kinh tế ở châu Phi đã làm gia tăng nợ nước ngoài và chỉ trong 10 năm, nợ nước ngoài của các nước tăng từ 92 tỉ USD (1980) lên tới 300 tỉ USD (1990). Trong khi đó, sản lượng lương thực cung cấp cho người hiện còn 70% so với đầu thập kỷ 70, với 2/3 dân số không đủ lương thực để ăn. Số người đới hằng năm tới 120 – 150 triệu người. Nghiêm trọng nhất là ở Sudan (7,6 triệu người), Etiopia (7 triệu người), Somalia (4,5 triệu người), Malauy (1 triệu)… nguyên nhân chính gây ra là do khủng hoảng kinh tế kéo dài, chiến tranh liên miên và bùng nổ dân số.                                                                                                                                                                                                                             
   _ Bùng nổ dân số là một trong những nguyên nhân gây thảm kịch ở châu Phi. Chỉ trong vòng 20 năm, dân số đã tăng đến hơn 650 triệu người, tỉ lệ gia tăng dân số lên tới 3 %. Trong số 15 nước có tỉ lệ sinh đẻ cao nhất thì châu Phi chiếm 12 nước (Ruanda: 5,2%; AngolaNiger…: 5,1 %). Nội chiến ở Ruanda không chỉ đơn thuần là xung đột mà còn do bùng nổ dân số. Với tỉ lệ mỗi phụ nữ sinh trung bình 10 lần, tỉ lệ sinh nở 8,3%, thì mỗi năm nước này có khoảng 30 vạn trẻ ra đời, trong khi đó quỹ đất có giới hạn (36.000 km2) và tại thủ độ của nước này, dân số đã tăng gấp đôi lên 1,2 triệu (1991).
   _ Châu Phi là châu lục có tỉ lệ người mù chữ cao nhất thế giới. Cuộc thống kê năm 1988 cho thấy, số người mù chữ chiếm tỉ lệ rất cao: Moritani: 69%; Maroc: 64%; Nam Phi: 50%...
   _ Châu Phi là “lục địa của bệnh AIDS”. Trong số 14 triệu người bị mắc bệnh này thì châu Phi chiếm 8 triệu người và con số này tăng theo cấp số nhân. Những người mắc bệnh thường ở tuổi 30 – 50 tuổi, lứa tuổi có khả năng lao động nhất ở châu Phi.

b) Đặc điểm phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ latinh:
_Sự thức tỉnh của giai cấp công nhân và nông dân dẫn đến sự bùng nổ những cuộc đấu tranh mạnh mẽ. So với châu Phi, giai cấp công nhân phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Tỉ lệ giai cấp công nhân chiếm 12,2% tổng số dân cư. Ở Mỹ latinh có 21 Đảng Cộng sản (trên tổng số 23 nước) nhìn chung các Đảng Cộng sản đi đầu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Tổ chức "Liên minh lao động Mỹ latinh" thành lập 1938 đã đoàn kết và lãnh đạo được 34 tổ chức công đoàn ở các nước Mỹ latinh. Phong trào công nhân bùng nổ và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ở Brazil, nếu như từ 1950 đã có 50 vạn công nhân bãi công thì trong mấy tháng đầu 1973 đã tăng lên 70 vạn và đến tháng 10/1974 có 100 vạn công nhân tham gia. Ở Chile, tháng 2/1955, Công đoàn toàn quốc đã lãnh đạo 44 tổ chức công đoàn các ngành, các giới tiến hành bãi công với 120 vạn người tham gia, chiếm 1/5 dân số toàn quốc. Năm 1958, tổng số công nhân Mỹ latinh tham gia bãi công là 7 triệu người, năm 1960 - 1961 , nhiều cuộc bãi công của công nhân Mehico, Arhentina, Peru... nổ ra mạnh mẽ. Các cuộc bãi công thường biến thành các cuộc mít tinh, tuần hành, biểu tình trên đường phố lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Ở nhiều nước, các cuộc bãi công chính trị ngày càng mạng tính chất toàn quốc, thậm chí có những cuộc bãi công mang tính chất toàn lục địa, như cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ bao vây và tấn công Cuba năm 1962.

_Nông dân chiếm hơn 70% dân số, nhưng trên 2/3 nông hộ không có ruộng đất. Trong khi đó, 2/3 diện tích đất canh tác lại nằm trong tay địa chủ và công ty tư bản lũng đoạn nước ngoài. Ở Venezuela, 75% diện tích đất đều nằm trong tay địa chủ, với tỉ lệ chưa đầy 1,7% số người có ruộng. Ở hầu hết các nước khác, tình hình cũng tương tự như vậy. Chính vì vậy, yêu cầu xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất từ lâu đã trở thành một yêu cầu cấp bách của nông dân. Do đó trong những năm sau Thế chiến 2, nông dân ở các nước Mỹ latinh như PeruEcuadorMehicoBrazil... đã nhiều lẩn nổi dậy đấu tranh giành lại ruộng đất từ tay địa chủ. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp nông dân các nước Mỹ latinh luôn luôn tỏ ra là lực lượng chủ lực của cách mạng.

_ Ở Mỹ latinh, phong trào đấu tranh vũ trang mang "tính chất toàn lục địa" đã bùng nổ mạnh mẽ và trở thành một trong những hình thức đấu tranh chủ yếu trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Chế độ thống trị tàn khốc ở các nước này đã buộc nhân dân phải sử dụng đấu tranh vũ trang để giành độc lập dân tộc. Ở Panama, tháng 3 - 4/1947, quân đội nổi dậy khởi nghĩa. Được nhân dân giúp sức, cuộc khởi nghĩa này kéo dài được 1 tháng. Ở Bolivia, nông dân nổi dậy khởi nghĩa chống chính quyền phản động Hertzog (1947 - 1949), chống sự bóc lột của công ty lũng đoạn nước ngoài và đòi thực hiện cải cách ruộng đất. Năm 1949, phong trào đấu tranh với phạm vi toàn quốc đã trở thành cuộc chiến tranh du kích. Ở Venezuela, chiến tranh du kích diễn ra khắp mọi miền từ núi xuống đồng bằng, đô thị... gây thiệt hại nặng nề cho chính quyền. Ở Guatemala, những sĩ quan yêu nước nổi dậy khởi nghĩa nhưng thất bại. Năm 1965 - 1967, phong trào đấu tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ với quy mô rộng lớn ở Colombia, Peru, Honduras... và quân du kích đã hình thành cho mình một lực lượng mạnh với nhiều khu giải phóng  trên toàn quốc.
_Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, Mặt trân dân tộc được hình thành và phát triển ở hầu hết các nước. Mặt trận dân tộc và thống nhất tập hợp đông đảo các tầng lớp trong xã hội, trong dó vai trò của Đảng Cộng sản được tăng cường, khối đoàn kết công nông ngày càng củng cố vững chắc và trở thành động lực chính của phong trào giải phóng dân tộc. Ở một số nước, Mặt trận đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử, dẫn đế thành lập các chính phủ Mặt trận Nhân dân như GuatemalaArhentinaVenezuela và sự ra đời của Chính phủ Liên minh đoàn kết nhân dân do Tổng thống Allende cầm đầu ở Chile.... 
_Từ sau cách mạng Cuba thắng lợi, các nước Mỹ latinh còn có nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ cách mạng Cuba. Khẩu hiệu "Muốn Cuba, không muốn Mỹ" đã trở thành khẩu hiệu chính trong cuộc đấu tranh của các nước Mỹ latinh. Sự ủng hộ kiên quyết, mạnh mẽ của nhân dân các nước Mỹ latinh là một trong những nhân tố quan trọng giúp Cuba đứng vững trong cuộc bao vây tấn công của Mỹ.

5. Tình hình Trung Quốc từ 1945_1959.
  a) Giai đoạn 1945 – 1949: Cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc giành thắng lợi, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập.
Sau khi kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật, ở Trung Quốc cục diện cách mạng đã có sự thay đổi rõ rệt: lực lượng Đảng Cộng sản đang ngày càng lớn mạnh (1,2 triệu người) và chiếm được nhiều vùng đất quan trọng ở Trung Quốc. Trong khi đó ở bên Quốc dân Đảng, lúc chiến tranh chống Nhật còn đang tiếp diễn, Tưởng Giới Thạch thi hành đường lối chống Nhật rất tiêu cực, chỉ rút lui và bảo toàn lực lượng. Sau khi Nhật rút, chúng đã tiến hành đưa quân đến vùng giải phóng để ngăn chặn Cộng sản, lũng đoạn kinh tế và còn âm mưu phát động cuộc nội chiến nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản và cách mạng Trung Quốc.
Xuất phát từ tình hình trên, Đảng Cộng sản đã tiến hành đàm phán với Quốc dân Đảng để thực hiện hòa bình dân chủ. Mặc dù cả hai bên đã đàm phán ở Trùng Khánh, ký các Hiệp ước Song Thập (10/10/1945) và Hội nghị Hiệp thương chính trị, nhưng do bất đồng về đường lối, quan điểm nên cả hai bên chưa đạt mục đích hòa giải mâu thuẫn vốn có từ lâu. Đến năm 1946, do nhận thấy mâu thuẫn này không thể điều hòa được nữa, hai bên đã phải đánh nhau trong 3 năm trời (1946 – 1949) để giành quyền thống trị Trung Quốc.
Ngày 20/7/1946, Tưởng Giới Thạch chính thức phát động cuộc nội chiến chống Đảng Cộng sản. Từ tháng 7/1946 đến tháng 6/1947, Quân Giải phong Trung Quốc thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực. Sau giai đoạn này, quân cách mạng chuyển sang phản công, tấn công vào các vùng do Quốc dân Đảng kiểm soát. Bằng ba chiến dịch lớn (Liêu – Thẩm; Hoài – Hải, Bình – Tân) từ cuối 1948 đến đầu 1949, quân cách mạng đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1,5 triệu tên địch, lực lượng chủ lực bị tổn thất nghiêm trọng. Cuối năm 1949, toàn bộ Trung Quốc được giải phóng, tập đoàn Tưởng đã rút chạy ra Đài Loan. Ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, đứng đầu là chủ tịch Mao Trạch Đông.
Sự kiện này đã chấm dứt hơn 100 năm nô dịch của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đưa nước Trung Hoa bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội; tạo điều kiệnn cho chủ nghĩa xã hội châu Âu được nối liền sang châu Á và ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
  b) Giai đoạn 2: Thời kỳ phục hồi, phát triển kinh tế
Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, nhân dân Trung Quốc bước vào thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiêm vụ đưa nước Trung Hoa từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
Ngày 30/6/1950, Luật Cải cách ruộng đất được thực hiện. Cải cách ruộng đất được tiến hành trên toàn quốc, kể cả vùng dân tộc thiểu số. Ngoài ra, chính phủ cũng tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp; cải tạo công – thương nghiệp tư bản tư doanh; tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa – giáo dục… Đến cuối 1952 công cuộc khôi phục kinh tế được hoàn thành. Sản lượng công nghiệp tăng 2 lần năm 1949 và vượt mức trước chiến tranh.
Từ năm 1953, Trung Quốc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên (1953 – 1957). Nhờ sự nỗ lực lao động của toàn dân và sự giúp đỡ của Liên Xô, kế hoạch 5 năm đã hoàn thành thắng lợi. Bộ mặt đất nước thay đổi rõ rệt: 246 công trình được xây dựng xong; sản lượng công nghiệp tăng 140%, nông nghiệp tăng 25%. Các ngành công nghiệp nặng như chế tạo cơ khí, luyện kim, khai thác than… phát triển nhanh. Trung Quốc đã tự sản xuất được 60% số máy móc cần thiết. Văn hóa, giáo dục phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Về đối ngoại, Trung Quốc thi hành chính sách ngoại giao tích cực nhằm củng cố hòa bình, thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới. Địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao.
Ngày 14/2/1950, Trung Quốc ký với Liên Xô hiệp ước hữu nghị, đồng minh Xô – Trung và nhiều hiệp ước tài chính, kinh tế khác; phái Quân chí nguyện sang giúp nhân dân Triều Tiên chống Mỹ (1950 – 1953); giúp đỡ nhân dân Việt Nam chống Pháp; ủng hộ nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ latinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tham gia hội nghị Băngđung (1955, Indonesia). Ngày 18/1/1950, Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

6. Tình hình kinh tế Singapore 1965_1991 (nguyên nhân phát triển).

a) Tình hình phát triển kinh tế Singapore, giai đoạn 1965 – 1990
Singapore đã chọn đúng thời điểm để thực hiện chiến lược hướng ngoại (công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu). Đó là:
    + Việc dư thừa vốn, tư bản đã đặt ra cho các nước tư bản phải quốc tế hóa nền sản xuất. Đây là cơ hội tốt để các nước đang phát triển thu hút vốn đầu tư.
    + Singapore có vị trí quan trọng về quốc phòng trong khu vực, quan hệ tốt đẹp với Mỹ nên Mỹ đã giúp đỡ, tạo cơ hội phát triển kinh tế cho Singapore và Singapore đã tận dụng cơ hội đó để phát triển kinh tế.
      * Quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và những thành tựu
Khuyến khích các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhằm giải quyết nạn thất nghiệp như kéo sợi, may mặt gỗ, chế biến thực phẩm. Năm 1970 đã chuyển từ công nghiệp dùng sức lao động chân tay sang công nghiệp nặng có dùng nhiều vốn như ngành đóng tàu biển, ngành lọc dầu. Singapore đã đầu tư  số vốn thích đáng để đẩy nhanh năng lực sản xuất của các ngành này. Ví dụ, chính phủ đã đầu từ 4 tỉ dollar Singapore cho ngành lọc dầu để thúc đẩy ngành này phát triển mạnh. Kết quả, sản lượng dầu của nước này tăng vùn vụt: năm 1976: 13.378 nghìn tấn; 1982: 19.483 nghìn tấn; 1989: 23.438 nghìn tấn. Hằng năm, giá trị tổng sản lượng toàn ngành lọc dầu đã chiếm tới 1/3 tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp.
Ngoài ngành lọc dầu, công nghiệp sản xuất thiết bị điện và điện tử cũng là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Singapore. Chính phủ đã đầu tư  vào nó 900 tỉ dollar. Năm 1957, toàn ngành chỉ mới có 868 nhân công, nhưng đến 1970 thì tăng lên 12,1 nghìn người, và đến 1980 đã lên tới 83,8 nghìn người. Đây là ngành  thu hút nhiều lao động nhất của Singapore. Ngoài ra, ngành sản xuất thiết bị máy móc cũng chiếm một tỉ lệ lớn trong nền kinh tế.
Như vậy, trong vòng 24 năm thực hiện công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, sản xuất công nghiệp đã đạt mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng của GDP, GNP. Cụ thể, sản xuất công nghiệp 1990 đã tăng gấp 2 lần so với năm 1966, riêng công nghiệp chế biến đã tăng gấp 11,4 lần so với năm 1966; nhưng sau đó chậm dần và đến những năm 80 thì tốc độ này đã thấp hơn tốc độ tăng chung của nền kinh tế, do vai trò tích cực của ngành dịch vụ. Và sự phát triển của công nghiệp đã tạo điều kiện đủ việc cho người lao động mà còn là động lực đẩy mạnh xuất khẩu.
Về xuất khẩu, Singapore đã có những hoạt động tích cực và đã phát triển rất mạnh hoạt động này. Kim ngạch xuất khẩu trong thời gian từ 1968 – 1989 luôn tăng gấp đôi: năm 1968: 1,27 tỉ USD; 1972: 2,18 tỉ USD; 1974: 5,8 tỉ USD; 1978: 10,1 tỉ USD; 1981: 21 tỉ USD, riêng ở giai đoạn sau cũng tăng nhưng chậm.
Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu có sự thay đổi đáng chú ý. Nguyên liệu thô xuất khẩu giảm mạnh từ mức 16,4% (1976) đến 2,5% (1991). Trong khi đó, tỉ trong thiết bị máy móc, công nghiệp khai khoáng tăng dần. Về thiết bị máy móc: năm 1976: 25,2%; 1895: 33%; 1991: 50,6%, khai khoáng: 1976: 23,3%; 1985: 60%; 1991: 67,7%.
Thị trường xuất khẩu của Singapore là các nước châu Á. Từ năm 1976 đến 1990, tỉ trọng xuất khẩu tăng gấp 1,5 lần, chủ yếu là Malaysia và Nhật Bản, ở Tây Âu và Mỹ thì ổn định, mức 10 – 20%. Cụ thể, ở Tây Âu: 17,8% (1976); 11,8%(1990); 16% (1990). Mỹ: 44,6% (1976); 21,2% (1985); 24% (1990). Đặc điểm của ngoại thương Singapore thời kỳ 1965 – 1990 là luôn luôn nhập siêu với châu Á, Trung Đông và mặt hàng cung cấp chủ yếu là nông sản, thực phẩm, máy móc, dầu thô… Hằng năm Singapore nhập từ 2 khu vực này là 60 – 65% tổng kim ngạch nhập khẩu của mình. Đối với Tây Âu thì Singapore xuất siêu, còn Mỹ là ngược lại.
Cùng với sự phát triển công nghiệp, Singapore chú trọng phát triển dịch vụ để phát huy lợi thế của mình. Do tăng cường đầu tư  nên năng lực bốc dỡ hàng hóa tăng nhanh (gấp 1,5 lần) và đến năm 1990 đã đứng hàng thứ hai thế giới. Ngoài ra, từ năm 1969 Singapore tổ chức 5 khu vực xung quanh cảng, thực hiện quy chế miễn phí các thủ tục hành chính nên năng lực bốc dỡ cũng dần tăng lên, hàng ngày còn cung cấp dịch vụ sửa chữ tàu, cung cấp nguyên liệu và trong ngày Singapore có thể tiếp nhận nhiều khoảng 40 tàu ra vào cảng.
Ngoài dịch vụ bốc dỡ hàng hóa, trung chuyển các tàu ra vào cảng, Singapore cũng sớm chú ý về lĩnh vực tài chính, tiền tệ. Năm 1968, Singapore thiết lập thị trường ngoại hối, đồng dollar Mỹ chiếm 90% còn lại là đồng Mác Đức, đồng phơrăng Thụy Sĩ, cục tiền tệ nước này cho phép vay ngoại tệ với các khoảng kinh doanh trị giá trên 100 nghìn dollar Mỹ để đổi lấy ngoại tệ trên thị trường theo giá do chính phủ quy định, mặc khác chính phủ quy định mức ký thác ngoại tệ bắt buộc với công ty người nước ngoài thấp hơn mức của thị trường đồng tiền châu Âu. Chính phủ cho phép bất cứ người nước ngoài nào cũng được quyền chuyển vốn nhàn rỗi để lấy lãi ở nước này hoặc thông qua các ngân hàng đầu tư vào Singapore, cho phép các chi nhánh ngân hàng nhận tiền ký gửi hoặc cấp phát tín dụng bằng ngoại tệ cho những khách hàng không cư trú ở Singapore. Ngoài ra, thị trường vàng cũng ra đời năm 1969 tại Singapore. Lúc đầu, nó có khoảng 10 hãng buôn lớn hoạt động; chính phủ cho phép các hãng này mua vàng ở bất cứ nơi nào và bán ở đâu, cho ai mà không bị đánh thuế. Thị trường chứng khoáng (thành lập 1971) phát triển mạnh. Vào thập niên 80 thị trường này đã có 271 công ty tham gia (1980) và khối lượng giao dịch đã lên tới gần 2 nghìn triệu dollar Mỹ.
Ngoài ra, Singapore còn tăng cường cho nước ngoài đầu tư vào Singapore để giúp nước này vực dậy và phát triểm trở thành “con rồng châu Á”. Trong những năm 1977 – 1982, tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Singapore chiếm tới 59,2% tổng nguồn tài chính ở nước ngoài đổ vào Singapore, trong khi đó Hongkong: 32,8%; Hàn Quốc: 4,5%. Đầu tư của tư nhân vào nước này trong những năm 60 chiếm 37% tổng số vốn đầu tư vào Singapore, và đến những năm 1970 – 1976 đã lên tới 44%.
Từ năm 1970 – 1985, tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào nước này lên đến gần 7,9 tỉ dollar Mỹ. Sự gia tăng vốn đầu tư này gắn liền với sự xâm nhập mạnh mẽ của công ty độc quyền xuyên quốc gia. Trong những năm 70, ở Singapore đã có gần 700 công ty độc quyền nước ngoài hoạt động. Năm 1980 đã có 1307 chi nhánh của các hãng của Mỹ, Nhật, Tây Âu hoạt động. Để khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Singapore, chính phủ đã có những chính sách tích cực như: huy động vốn trong nước cho phát triển (ngân hàng, tư nhân, doanh nghiệp), khuyến khích các xí nghiệp chuyên ngành mũi nhọn, doanh nghiệp mở rộng được hoạt động tư do, rộng rãi theo các quy chế đặc biệt, miễn thuế và dành một số ưu đãi đặc biệt để giúp nó phát triển, tăng lợi nhuận và kết quả của chính sách này là đã tích lũy được số vốn, đáp ứng đầu tư trong nước và đến thập kỷ 80 thì vượt ngưỡng mức đầu tư trong nước dẫn đến mở rộng đầu tư ra nước ngoài nhiều hơn.
Chính nhờ những chính sách này mà Singapore đã trở thành một trung tâm kinh tế, tài chính lớn nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương và toàn thế giới. Các ngành kinh tế Singapore vẫn tiếp tục phát triển đạt mức 5 – 10% toàn quốc, và hiện nay nước này đang phát triển, trở thành “con rồng châu Á” lớn trong tương lai.
b) Nguyên nhân phát triển kinh tế Singapore thời kỳ 1965 – 1990
  - Vị trí địa lý thuận lợi: Singapore nằm ở vị trí giao nhau của con đường huyết mạch chính vận chuyển hàng hải giữa ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và eo biển Malacca. Quốc đảo này được tổ hợp nên bởi hơn 50 đảo trong đó Singapore là đảo lớn nhất , địa thế nơi đây phẳng đều, những eo biển giữa các hòn đảo là nơi neo đậu thuận tiện cho các tàu bè. Nằm tại một trong những giao lộ của thế giới, vị trí chiến lược của Singapore chính là yếu tố thuận lợi góp phần giúp quốc gia này phát triển thành một trong những trung tâm quan trọng của thế giới về các lĩnh vực như thương mại, viễn thông và du lịch.
  - Bộ máy chính phủ là những người có tâm huyết, có tư duy. Bớt đi những tư tưởng cố hữu như tham nhũng, độc tài. Được coi là bộ máy sạch của thế giới, cuộc chiến chống tham nhũng ở Singapore vẫn luôn thường xuyên. Vấn đề là tham nhũng ở đó đã nằm trong vòng kiểm soát, theo như đánh giá của Tổ chức PERC: “Với điểm số 0,38 trên thang điểm từ 0 - 10, hầu như là chẳng có tham nhũng”.
  - Con người là nhân tố chính cho sự phát triển kinh tế của Singapore. Từ ngày đầu lập quốc vào năm 1965 với điểm xuất phát hầu như là con số 0, ông Lý Quang Diệu chỉ nhắn nhủ người dân của mình, từ doanh nhân đến quan chức, "nói là làm". Và khi làm thì "cố gắng làm tốt nhất". Lời nói của ông như một động lực để thúc đẩy người dân làm việc hết mình, cống hiến sức mình phục vụ đất nước, đồng thời cũng giúp Singapore xây dựng được một thương hiệu quốc gia dựa trên chữ tín, đồng thời một nội lực cạnh tranh vượt bậc. Ngoài ra, ở Singapore, người Hoa chiếm tới 80% dân số nhưng kiểm soát tới  70% ngoại thương, tất cả những ngành kinh tế đều là người Hoa nắm giữ.
 - Cùng với đó là chính sách giáo dục tuyệt vời giúp Singapore tạo ra một nguồn nhân tài có chất lượng phục vụ cho đất nước. Chính phủ thực hiện việc cấp học bổng cho sinh viên xuất sắc với quy chế ràng buộc phải về làm việc cho nhà nước trong vòng 4 – 6 năm. Mặc khác, để giữ lại nhân tài, chính phủ đã có chính sách linh hoạt trả công xứng đáng cho công chức nhà nước mà Singapore sử dụng. Thêm nữa, chính phủ tạo điều kiện để các nhân tài tham gia vào bộ máy nhà nước để tránh việc chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư. Và chính sách thu hút nhân tài từ nước ngoài của Singapore này tao thành một nguồn nhân lực dồi dào, tạo điều kiện cho đất nước phát triển mạnh mẽ.
           -  Chuyển từ chính sách kinh tế hướng nội sang kinh tế hướng ngoại. Đó là nhanh chóng chuyển công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Các ngành được ưu tiên khuyến khích tiến hành công nghiệp hóa là các ngành công nghiệp nhẹ như may mặc, kéo sợi, chế biến gỗ…., nhằm giải quyết vấn đề thất nghiệp ở nước này, sau đó mới dần dần chuyển sang công nghiệp nặng như đóng tàu, luyện kim, thiết bị điện tử…. và họ đã thành công. Hiện nay, nước này có mức dự trữ ngoại tệ cao nhất thế giới, khả năng đầu tư lớn ra nước ngoài. Chính phủ cũng tiến hành đẩy mạnh xuất khẩu các mặc hàng quan trọng ra nước ngoài và thu về lợi nhuận cao nhất. Hiện nay, Singapore đã đáp ứng 70% nhu cầu của thế giới về xuất khẩu tàu biển, dàn khoan dầu mỏ ngoài khơi.
-  Chuyển từ chế độ dân chủ sang chế độ độc tài. Lúc đầu sau khi thành lập nước, Lý Quang Diệu đã chủ trương áp dụng thử mô hình dân chủ đại nghị của Anh, tổ chức lại bộ máy nhà nước, dần dần cho những người trí thức tham gia vào bộ máy nhà nước. Về sau, do nhận thấy bộ máy chính quyền có nhiều vụ “lộn xộn”, tình trạng tham nhũng thường xuyên xảy ra, kinh tế phát triển “khá” ổn định, xã hội bị rối loạn, thi hành chính sách đàn áp dân chủ, nên ông Lý quyết định chuyển đổi thể chế từ dân chủ đại nghị sang chế độ độc tài. Ông đã tiến hành chính sách thanh lọc chính phủ để trở thành chính phủ “sạch nhất thế giới”, những biện pháp cứng rắn nhằm đàn áp phe đối lập và quyền tự do ngôn luận, bỏ tù người chống đối không qua xét xử; nhưng mặc khác thi hành chính sách cải cách kinh tế (nhất là công nghiệp, ngoại thương), tài chính và chứng khoáng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài làm cho kinh tế phát triển mạnh lên, trở thành “con rồng châu Á”.

7. Khái quát phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á sau 1945.
Với 47 quốc gia, châu Á có diện tích 44,6 triệu km2, chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới. Châu Á có nhiều nguồn tài nguyên phong phú và nhiều nông sản quý giá.
Trước chiến tranh thế giới thứ hai, các nước châu Á là những nước thuộc địa, nửa thuộc địa và là thị trường tiêu thụ hàng hóa và cung cấp nguyên liệu chủ yếu của các nước đế quốc Anh, Mỹ, Hà Lan… Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tiếp theo châu Phi và Mỹ latinh, châu Á đã trở thành trung tâm của phong trào cách mạng thế giới. Quá trình phát triển và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á đã trải qua các giai đoạn sau đây:
   a) Thời kỳ từ 1945 – 1949: thời kỳ phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và lan rộng đến Đông Nam Á, Nam Á, Đông Bắc Á, bước đầu làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thắng lợi của Liên Xô và các lực lượng đồng minh chống phát xít đã cổ vũ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các nước châu Á bước vào một thời kỳ mới.
       Ngày 17/8/1945, chớp thời cơ thuận lợi, nhân dân Indonesia đã nổi dậy làm cuộc cách mạng tháng Tám và nước cộng hòa Indonesia được thành lập. Cuộc cách mạng tháng Tám của nhân dân Việt Nam thành công, dẫn tới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tháng 8/1945, nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy và ngày 12/10 năm đó, nước Lào tuyên bố độc lập. phong trào giải phóng dân tộc cũng lên cao mạnh mẽ ở Miến Điện, Mã LaiPhilippines, Ấn Độ, Libăng…
Trước sự nổi dậy mãnh liệt đó, các nước đế quốc đã cấu kết với nhau tìm cách đối phó. Được sự giúp đỡ của Mỹ, thực dân Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt trở lại xâm lược các thuộc địa trước đây: Indonesia (11/1945); Mã Lai (12/1945); ba nước Đông Dương (12/1946)… Phong trào giải phóng dân tộc bước vào thời kỳ khó khăn, quyết liệt để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ở một số nơi, bằng các cuộc chiến tranh xâm lược kết hợp với các thủ đoạn chính trị, các nước đế quốc đã tấn công vào phong trào giải phóng dân tộc. Mặc khác ở một số nơi, do cuộc đấu tranh mãnh liệt của nhân dân, nhiều nước đã giành thắng lợi và tuyên bố độc lập: Philippin (4-7-1946), Miến Điện (4-1-1948), Indonesia (27-12-1949)…
    Trước tình hình đó, ngày 1/10/1949, cách mạng dân tộc dân chủ Trung quốc thắng lợi, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa được thành lập. Với diện tích bằng ¼  châu Á và chiếm gần ¼ diện tích thế giới, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc đã phá vỡ một mảng lớn trong hệ thống chủ nghĩa đế quốc, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triẻn mạnh mẽ và làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa nối liền từ châu Âu sang châu Á.
      b) Thời kỳ từ năm 1949 đến 1954:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự can thiệp và giúp đỡ của Mỹ, các nước Anh, Pháp… với chính sách pháo hạm, đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu cũ ở hầu hết các thuộc địa cũ của chúng ở Đông Nam Á.
Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam (5/1954) đã cổ vũ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới. Như một phản ứng dây chuyền, phong trào đấu tranh đã lan rộng khắp các nước trong châu lục.
      c) Thời kỳ từ 1954 đến 1975
Phong trào giải phóng dân tộc bao trùm các nước ở Trung Đông lan nhanh sóng đấu tranh giải phóng của các dân tộc. Hệ thống thuộc địa của chúng đang dần tan rã nhanh chóng.
Chỉ vài tháng sau chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam, phong trào đấu tranh bùng lên mạnh mẽ ở các nước khác và nhiều quốc gia sau đã giành được độc lập: Malaysia (31-8-1957), Singapore (1963). Ở Đông Dương cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống đế quốc Mỹ - tay sai của 3 nước diễn ra hết sức quyết liệt và mang tính chất của cuộc chiến tranh cách mạng, đến năm 1975 mới kết thúc thắng lợi.
Năm 1955, hội nghị Bangdung được triệu tập gồm đại biểu của 30 nước Á, Phi, đại diện cho hơn phân nửa nhân loại. Hội nghị đánh dấu việc các nước này bước lên vũ đài chính trị. Lần đầu tiên trong lịch sử, các nước Á_Phi đã đoàn kết với nhau trong một mặt trận thống nhất của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc.
     d) Từ năm 1975 đến nay
Sau khi giành được độc lập dân tộc, các nước châu Á bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội. Công cuộc này được bắt đầu ở những thời gian sớm muộn khác nhau, có những con đường đi khác nhau như : hướng Chủ nghĩa xã hội (Trung Quốc, Việt Nam…), hướng tư bản chủ nghĩa (MalaysiaCampuchiaSingapore…), nhưng nhìn chung đó là cuộc đấu tranh rất lâu dài và gian khổ. Về kinh tế, các nước có sự phát triển vượt bậc, sản lượng công – nông nghiệp tăng gấp 3 lần, giành được quyền chủ động nhất định trong quan hệ với đế quốc. Cho đến những năm 70, mặc dù nền kinh tế ở các nước có gặp khó khăn nhất định (thiếu hụt cán cân thương mại, nợ nước ngoài chồng chất… nhưng nhìn chung đã có bước phát triển mới; một số nước đã đạt nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, đã “hóa rồng”, trở thành những nước công nghiệp mới (NICs) như Hồng Công, Đài Loan, Hàn Quốc….
Từ sự phát triển thắng lợi của sự phát triển kinh tế - xã hội, các nước mới nảy sinh ra nhu cầu là cần hợp tác với nhau cùng phát triển. Xuất phát từ thực tế đó, nhiều tổ chức mới về hợp tác mang tính khu vực ra đời. Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ở Thái lan, bao gồm 5 thành viên. Sau hiệp ước Bali (1976), quá trình hòa nhập và hợp tác giữa các nước diễn ra mạnh mẽ, nhiều nước gia nhập vào ASEAN: Brunây (1984), Việt Nam (1995), Lào – Mianma (1997), Campuchia (1999)…
Cùng với thắng lợi về kinh tế -  xã hội, ngoại giao giữa các nước có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 1961, Phong trào không liên kết giữa các nước trên thế giới ra đời. Đó là phong trào chủ trương không tham gia bất cứ khối chính trị, quân sự nào; chống chế độ thực dân cũ để giành độc lập về chính trị, kinh tế, xã hội, hợp tác quốc tế trên cơ sở công bằng, cùng có lợi. trải qua hơn 30 năm thành lập, đến nay phong trào này (thời điểm 1995) có 109 thành viên. Cùng với phong trào này, 77 nước Á – Phi – Mỹ latinh sang lập tổ chức G77 (1964) với mục tiêu đoàn kết, thống nhất chung về kinh tế và thương mại. Hiện nay, tổ chức này có 133 nước (1995).

8. Đặc điểm tình hình chính trị châu Á sau 1945. Vì sao các nước theo mô hình phương Tây lại thất bại ở châu Á ?
 - Chính trị: sau khi giành độc lập các nước đứng trước hàng loạt vấn đề khó khăn cấp bách (tàn tích phong kiến còn để lại, kinh tế lạc hậu, bất bình đẳng xã hội….). Trước yêu cầu nói trên, giai cấp tư sản non trẻ tất yếu phải vay mượn mô hình chính trị dân chủ - đại nghị bên ngoài để tiện quản lý đất nước. Ở mô hình này, Tổng thống là người đứng đầu quản lý đất nước, sau ông ta là một nội các gồm nhiều bộ trưởng khác nhau và Thủ tướng là người đứng đầu nội các đó. Tuy nhiên, nền dân chủ - đại nghị này không có kết quả, không tồn tại được là vì không dân chủ: chính quyền ra tay đàn áp mọi phong trào dân chủ chống lại mình. Sở dĩ có điều này là vì ở Hàn Quốc và các nước châu Á khác, ý thức hệ chính trị (Nho giáo), tư tưởng về một trật tự xã hội nhất định, vẫn còn trong tâm trí người dân; cho nên họ hầu như không quan tâm gì nhiều đến chính trị, về trật tự xã hội hiện tại và họ có quyền phán xét chế độ chính trị đó:  nếu hợp thì họ giữ và không thì phải xóa bỏ nó đi. Cho nên tóm lại, chế độ này không có cơ sở dân chủ.
 - Tư tưởng: ở các nước này, do quen chịu bị giặc đô hộ từ lâu cho nên người dân tỏ ra chai lì, có ý thức tự giác rất kém. Trong khi kinh tế đang phát triển theo hướng nhất định, nhà nước chăm lo thất nghiệp, bệnh tật thì họ không làm gì hết, mà làm thì cần có sự thúc ép mới chịu làm mà thôi. Ở Việt Nam thì sau khi giành độc lập, xã hội rối ren đã dẫn đến khủng hoảng. Khi nền chính trị bị khủng hoảng, người dân mong có chế độ mới để khống chế sự khủng hoảng này và chế độ độc tài chính là phương thuốc hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc khủng hoảng này. Mặc khác lúc đó, các nước chưa có cơ sở mạnh để cho định chế chính trị phát triển nên chỉ có duy nhất chế độ độc tài mới có thể ổn định được. Các chính phủ độc tài (quân nhân) của Hàn Quốc (Park Chung Hee, Chun Doo Hwan, Roh Tae Woo); Indonesia (Suharto); Philippines (Marcos)… đã thể hiện phần nào vai trò của mình trên đất nước của họ. Mặc dù không trách khỏi khiếm khuyết vốn có (đàn áp dân chủ, tôn sùng cá nhân, chống cộng sản…) nhưng nó lại kích thích sự phát triển mạnh của kinh tế, văn hóa… Trong các chính phủ này, vai trò của quân đội được nâng cao. Quân đội các nước thuộc chế độ độc tài thì được trang bị vũ khí hiện đại và rất hùng mạnh. Hàn QuốcPhilippines, Thái Lan… đã trở thành các căn cứ quân sự mạnh của Mỹ ở châu Á. Quân đội các nước này bị biến thành đạo quân lê dương đánh thuê trên chiến trường Việt Nam và là lực lượng đàn áp hung bạo các phong trào trong nước.
Nhân tố Mỹ là không thể thiếu trong sự phát triển chính trị, quân sự và kinh tế ở các nước này. Trong chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953), Đông Dương (1954 – 1975), Mỹ thường viện trợ cho các nước đang phát triển sau chiến tranh (1945), thậm chí là đặt quan hệ ngoại giao với các nước như Thái Lan, Philippines, Hàn Quốc để lôi kéo các nước đó làm đồng minh theo mình vào chiến trường Việt Nam đánh quân Việt Nam. Trong cuộc chiến này, Mỹ cũng hứa hẹn rất nhiều với các nước đồng minh này như trả tiền lương cho người lính của các nước này để họ về phụ giúp gia đình phát triển kinh tế, đồng thời việc làm này của Mỹ cũng kích thích lính các nước đồng minh theo Mỹ đánh Việt Nam; còn nữa là Mỹ cũng hứa là sẽ viện trợ vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các nước này nên các nước này cũng nắm bắt cơ hội này để phát triển.( giải thích thêm). Thực vậy, một chính phủ tốt là chính phủ đặt quyền lợi nhân dân lên hàng đầu (ví dụ các chính quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc, Cuba… thi hành nhiều chính sách tốt như cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền dân chủ cho mình), còn Mỹ thì không, đặt lợi ích của mình lên hàng đầu. Ở Mỹ, chủ nghĩa tư bản phát triển không có giới hạn, đi liền với phát triển kinh tế – chính trị là phát triển về đối ngoại. Sau 1945, trong khi các nước khác bị suy yếu nhiều mặt thì Mỹ lại vươn lên mạnh và gần như muốn độc chiếm toàn thế giới, nhất là châu Á và tất nhiên là Mỹ sẽ thực hiện bằng được để “chiếm” châu Á, giành được ảnh hưởng ở vùng này. Mặc khác trong quá trình gây ảnh hưởng ở châu Á, Mỹ dùng mọi thủ đoạn như viện trợ kinh tế, kể cả can thiệp quân sự vào các nước này, buộc các nước phải “thần phục” mình, phụ thuộc vào Mỹ và những việc này là chỉ phục vụ cho lợi ích của nó nên tóm lại, trong chính sách của mình, Mỹ luôn đặt lợi ích của mình lên hàng đầu.
(xem trang tiếp theo)

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Khái quát lịch sử Việt Nam cổ - trung đại 2

Chương 3: Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc - chống Bắc thuộc
3.1. Việt Nam thời Bắc thuộc

  Năm 179 TCN, Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, thành lập nước Nam Việt. Năm 111 TCN, vua Hán Vũ đế đưa quân xâm chiếm Nam Việt, đổi tên thành Giao Chỉ. Theo quan niệm cũ, người ta lấy năm 111 TCN là năm khởi đầu Bắc thuộc, nhưng các sử gia hiện nay thống nhất lấy năm 179 TCN làm năm mở đầu thời kỳ Bắc thuộc. Chính sự tồn tại độc lập của các bộ tộc đã tăng cường tính cố kết giữa các bộ tộc, trong khi đó các công xã nông thôn tồn tại độc lập. Mặc dù An Dương Vương cố gắng hợp nhất thành một liên minh vững chắc, nhưng liên minh này thực sự rất lỏng lẻo, vì (1) tính ràng buộc, gắn kết không thực sự chặt giữa nhà nước với công xã (nhà nước thời sơ khai chưa có bộ luật cụ thể) và (2) tính tồn tại một cách độc lập, khép kín của các công xã, bộ lạc đã làm mất đi mối quan hệ, giao lưu lẫn nhau giữa họ và cuối cùng là không có phối hợp cùng nhà nước đấu tranh chống ngoại xâm. Nhà nước của Triệu Đà, của nhà Hán chỉ có thiết lập bộ máy ở trung ương, không đụng đến tổ chức chính quyền ở địa phương Âu Lạc. Các làng xã, thôn xóm thực chất là những nhà nước độc lập và bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước họa xâm lược của ngoại xâm. 
   Trong cộng đồng người dân ở Việt Nam thì Bắc thuộc, mặc dù người Việt  chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với người Hán, nhưng họ vẫn giữ được ý thức dân tộc cao. Văn hóa Việt Nam tuy còn hạn chế, chiếm tỉ lệ thấp nhưng là văn hóa chủ đạo vì nó có gốc rễ vững chắc trong thời Văn Lang - Âu Lạc, khó mà bị kẻ thù đàn áp, phá hoại được. Văn hóa Hán mặc dù là ngoại tộc, có tính xâm nhập mạnh mẽ (có từ lâu đời, trước văn hóa Việt hơn hàng nghìn năm) nhưng khi vào nước ta, nền văn hóa này được hòa lẫn vào văn hóa Việt Nam, được người Việt tiếp thu và chọn lọc cho phù hợp với bối cảnh và thời đại con người. Việc hòa nhập, giao lưu văn hóa giữa 2 cộng đồng người Hán - Việt này dần dần tạo nên sự gắn bó, cố kết lẫn nhau trong văn hóa Việt Nam, thể hiện tính độc lập dân tộc. Ý thức độc lập dân còn thì sẽ dẫn tới phong trào giải phóng dân tộc chắc chắn sẽ nổ ra và giành thắng lợi, thể hiện ý thức cộng đồng cao. Văn hóa Hán bị áp đảo và có chuyển biến sâu sắc trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam
3.2. Chống Bắc thuộc và những chuyển biến kinh tế, xã hội và văn hóa Việt Nam

3.3. Các quốc gia cổ trung đại ở phía Nam Việt Nam
a. Quốc gia Champa:
+ Hình thành và phát triển:
Quốc gia Champa được hình thành từ lâu đời ở vùng phía Nam nước ta và có quan hệ mật thiết với Việt Nam trong suốt thời kỳ phát triển của nó. Lịch sử hình thành của Champa gắn liền với văn hóa Sa Huỳnh - nền văn hóa cổ ở Việt Nam tồn tại từ khoảng thế kỷ VI TCN - thế kỷ II SCN và nhà nước Champa đã hình thành, phát triển đến thế kỷ XIX thì bị diệt vong. Các đền tháp chủ yếu xây dựng ở nơi đây. Trước khi thành lập nhà nước, nơi đây còn trong tình trạng công xã thị tộc bộ lạc và có 4 thế kỷ bị quân Hán xâm lược và thống trị. Bộ lạc Cau và Dừa chính là những bộ lạc thành lập nhà nước vào thế kỷ II SCN.  Kinh đô Champa di chuyển lần lần từ bắc vào nam, đầu tiên là Trà Kiệu (Quảng Nam, thế kỷ II), Đồng Dương, Khánh Hòa và cuối cùng là Bình Định. Vương quốc Champa được hình thành do sự kết hợp của nhiều bộ lạc tạo thành liên minh bộ lạc, tuy nhiên theo chính sử Trung Quốc và Việt Nam thì Champa hình thành do liên minh 2 bộ lạc mạnh nhất là bộ lạc Cau ở phía bắc (từ Quảng Nam - Bình Định); bộ lạc Dừa ở phía nam (Bình Định trở vào Nam) và hai bộ lạc này sống trên một vùng đất phía nam rộng lớn, lấy Bình Định làm ranh giới của lãnh địa hai bộ lạc này. Khi nhà Hán đem quân xâm chiếm, đặt quận Tượng Lâm, nhân dân ở đây không ngừng đấu tranh chống lại quân Hán và cuối cùng, năm 190 - 192 họ đã giành được độc lập và thành lập quốc gia. Sở dĩ Champa giành độc lập sớm và nhanh gọn trước khi Việt Nam độc lập (Việt Nam độc lập vào thế kỷ X) là có nhiều nguyên do khác nhau, nhưng có lẽ nguyên nhân dẫn đến Champa giành thắng lợi trước Việt Nam là do Champa có sự may mắn. Việt Nam gần Trung Quốc nhưng Trung Quốc mạnh nên đủ sức đàn áp các cuộc nổi dậy của người Việt, nhưng quận Tượng Lâm thì xa so với nhà Hán và là vùng đệm nên có nhiều thuận lợi hơn. Cuối thế kỷ II, nhân khi nhà Hán ở Trung Quốc suy vi, nhân dân hai bộ lạc Cau và Dừa sưới sự lãnh đạo của Khu Liên nổi dậy giành được độc lập, thành lập nên quốc gia Lâm Ấp. Sau khi lập nước, Khu Liên đánh thẳng ra Bắc, tiến tới Đèo Ngang (Quảng Bình) rồi lập ranh giới quốc gia ở đó, quốc gia Champa - nhà nước quân chủ mới đã chính thức được thành lập. Việt Nam thời kỳ đó bị Trung Quốc đối xử tệ, Trung Quốc cho rằng Việt Nam là dân man di và không có văn minh, Việt Nam sau khi độc lập phát triển thành quốc gia lớn cũng bắt chước Trung Quốc, gọi các nước xung quanh, đặc biệt là các dân tộc thiểu số là man di, mọi rợ với tính miệt thị, kỳ thị.
Lâm Ấp ra đời sớm nhưng nó có giai đoạn phát triển mạnh, từng mở rộng lãnh thổ và gây chiến với Đại Việt, Angkor (Campuchia), Lào.... Quân đội rất thiện chiến và điều đó là phổ biến, nước lớn tấn công nước nhỏ là chuyện thường ngày.
+ Tình hình kinh tế - xã hội:
- Nông nghiệp: trồng lúa là chủ yếu. Lý do cho hiện tượng này là vì: cư dân Champa sống dọc ven biển, nhưng họ ít làm nghề biển. Mặc khác, dân số ít, đất hẹp nên trồng lúa là chủ yếu để có lương thực. Khảo cổ học từng phát hiện nơi đây có công cụ bằng sắt, chứng tỏ có nông nghiệp phát triển
- Nhà nước: theo thể chế quân chủ chuyên chế. Quyền lực của vua là vô hạn, có tính thế tập (chính trị) và có tính tôn giáo. Vua chia đất nước thành các châu, huyện, làng. Khảo cổ học nghiên cứu Champa về tổ chức hành chính thì cho rằng, Vua chia đơn vị hành chính theo đơn vị bộ lạc (Champa có 4 bộ lạc lớn), dẫn tới thành lập nhà nước với 4 châu lớn nhỏ khác nhau. Kinh đô Champa thay đổi theo thời kỳ từ bắc xuống nam: Trà Kiệu - Đồng Dương - Chà Bàn - Phan Rang. Người Chăm mất đất là sự thăng trầm của lịch sử.
- Văn hóa: người Chăm chịu ành hưởng của văn hóa Ấn Độ. Đông Nam Á là nơi có nền văn hóa bản địa thống nhất trên cơ sở văn minh lúa nước. Sau khi văn minh bản địa hình thành và phát triển, Đông Nam Á chịu tác động của Ấn Độ, Trung Hoa. Trên nền tảng văn hóa đó, cư dân tiếp thu văn hóa khác tạo thành văn hóa có bản sắc riêng biệt. Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa bị Trung Hoa tác động vào một cách cưỡng bức song song với tự nguyện. Thời Bắc thuộc, giáo dục chỉ phát triển ở tầng lớp trên, không phát triển ở tầng lớp dưới. Nó độc lập một cách chủ động (theo trình độ phát triển). Cư dân Đông Nam Á coi trọng Tết, đánh dấu thời vụ nông nghiệp. Họ ở nhà sàn, ăn trầu cau, nhuộm răng và theo 3 tôn giáo lớn.
b. Quốc gia Phù Nam:
Quốc gia cổ Phù Nam hình thành từ thế kỷ I, phát triển từ thế kỷ III - thế kỷ V, suy tàn vào thế kỷ VII. Dấu vết của nó tìm thấy ở Óc Eo. Hiện nay người ta vẫn còn tranh cãi xem đất Nam Bô là thuộc chủ quyền của Việt Nam hay Campuchia. Người Campuchia cho rằng Phù Nam là quốc gia đầu tiên, Chân Lạp là nối tiếp của Phù Nam nhưng sự thực, Nam Bộ từ thế kỷ I - XVII là thuộc Chân Lạp. Chân Lạp có bộ máy nhà nước quản lý người Khmer nhưng thực ra chưa quản lý hết được họ. Trước thế kỷ VII, toàn bộ vùng đất Nam Bộ là một phần lãnh thổ của đế quốc Phù Nam.
Việc xác định lãnh thổ Phù Nam hiện là một vấn đề khó. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Phù Nam trước đây là một đế quốc rộng lớn với trung tâm của nó là đồng bằng Nam Bộ, một phần Campuchia và một phần lãnh thổ của Champa, các nước phiên thuộc Phù Nam là hơn 10 nước (trong đó có Malay, thế kỷ IV - V). Khi Phù Nam suy yếu, người Chân Lạp mạnh lên đi xâm lược Phù Nam làm họ lui về nơi ở cuối cùng là Gò Tháp. Phù Nam suy tàn, các dân tộc từ phía Tây Nguyên di cư vào Đông Nam Bộ và định cư ở nơi này (người Mạ, người Stieng) và trở thành dân tộc chủ thể ở đây. Theo Malleret, Óc Eo là thời kỳ sớm của Campuchia. Sihanouk đòi Nam Bộ thuộc Campuchia với lý do đất này có người Khmer sinh sống (có cây thốt nốt), nhưng sự thật Phù Nam bị Chân Lạp thôn tính. Vùng đất Nam Bộ người Khmer không sử dụng vì co chim kêu nhiều làm người ta thấy sợ, đầm lầy hoang vu nên không khai khẩn, các cửa sông như Trà Vinh, Hà Tiên có nhiều cá. Phù Nam suy tàn do Nam Bộ có địa chấn. Óc Eo là cảng thị do cư dân ngoài đô thị tràn vào, thao túng bộ máy nhà nước làm nó suy tàn, Óc Eo mất dần vị trí là trung tâm trung chuyển. Mặc khác dân số Khmer ít, nó đòi Nam Bộ phải thuộc Campuchia do có dấu tích ở nơi đây (Óc Eo, Chân Lạp). Nó chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhưng có nét riêng.
+ Kinh tế - xã hội:
- Kinh tế: làm đủ các nghề thuộc về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp
- Chính trị: thiết chế chính trị quân chủ
- Văn hóa - xã hội: ở nhà sàn, xây dựng các công trình phục vụ tôn giáo. Đi lại là thuyền, voi ngựa, phụ nữ mặc váy sarong, nam ở trần đóng khố (sampot) theo Balamon, Phật và có tục hỏa táng người chết. 


Chương 4: Việt Nam thời kỳ độc lập - tự chủ
1. Họ Khúc, họ Dương

2. Họ Ngô
Sau khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, ông xưng Vương (khác vua). Trước ông là Khúc Thừa Dụ. Sau khi giành được chính quyền năm 905, để bảo vệ nền độc lập vừa giành được thì ông tránh sức ép của nhà Đường (sau là Ngũ đại - Thập quốc), ông chọn giải pháp thỏa hiệp, đặt mình dưới sự quản lý của phong kiến Trung Quốc. Chính quyền Trung quốc không đủ sức can thiệp vào nước ta nữa nên đồng ý với chủ trương của ông. Chủ trương của Khúc Thừa Dụ là phù hợp, xét về thực lực và hình thức thì khác Trung Quốc. Ông làm quan cai trị cho Trung Quốc, nhưng thi hành chính sách có lợi. Thời Khúc Hạo, ông đem đến quyền tự chủ cho nhân dân. Tự chủ là quốc sách của nhà nước Việt Nam không chịu sự chi phối của Trung Quốc, tự chủ có ý nghĩa. Việc làm của họ Khúc đã mở đầu thời kỳ độc lập đang đến. Kết thúc Khúc Hạo, thời Thừa Mỹ thì suy yếu làm quân Nam Hán kéo sang xâm lược, nhưng quân Nam Hán bị Ngô Quyền đánh tan tành bên cửa sông Bạch Đằng vào tháng 11/938. Chiến thắng Bạch Đằng của ông chính thức là mốc kết thúc thời kỳ Bắc thuộc, mở đầu thời đại tự chủ - độc lập ở nước ta.
Sau khi giành độc lập cho đất nước, Ngô Quyền xưng vương. Việc ông nắm chính quyền và xưng vương đã tỏ ra tính dè dặt do chưa đủ nội lực (chấp nhận để Trung quốc công nhận để tránh sức ép của chúng). Ông giành thắng lợi, tuy nhiên do nhận thấy không đủ sức nên xưng vương là phù hợp. Ở Trung quốc, hoàng đế là số một, cao hơn chư hầu => xưng vương. Khái niệm độc lập có nhiều cách, nhưng cách phổ biến nhất là độc lập nhằm cho ra đời chính quyền, thể hiện mọt bước tiến lớn, vì đây là kết quả của suốt 1000 năm Bắc thuộc đấu tranh, tìm tòi và đúc kết kinh nghiệm lại.
Ngô Quyền lên ngôi vua ở một đất nước đang trong tình trạng tương đối độc lập. Thời Bắc thuộc, chính quyền Trung quốc mới đặt quyền thống trị ở trung ương, còn ở các địa phương thì tương đối độc lập và không phụ thuộc vào chính quyền Bắc thuộc => đất nước không thống nhất. Nhà Nam Hán mất kiểm soát sau khi chiếm nước ta cũng giống như Ngô Quyền sau này, không kiểm soát được toàn bộ đất nước. Thời Tiền Lê, cục diện cát cứ ngày càng lớn (Lê Hoàn khó kiểm soát). Các vùng khác độc lập làm trung ương khó kiểm soát. Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành độc lập cho đất nước không có nghĩa là ông đã kiểm soát các lãnh thổ khác nhau trong đất nước, bù lại ở các địa phương thì tình trạng cát cứ đang diễn ra liên tục.
Chính quyền họ Ngô khi nắm quyền phải xóa bỏ cát cứ mới tạo sự ổn định. Theo quy luật chung, khi chính quyền trung ương suy yếu thì cát cứ diễn ra là chuyện bình thường. Vào thế kỷ X khi nước ta tạm thời tự chủ, nhiều thế lực nổi lên cát cứ chống lại chính quyền trung ương, lực lương của Ngô Quyền là mạnh nhất và ông chiến thắng và lên cầm quyền. Tuy nhiên, chính quyền của ông chưa thực sự thống nhất, cát cứ hình thành và nhiều cuộc nổi loạn thường xảy ra. Thậm chí một số thế lực còn đưa người trà trộn vào chính quyền, nhằm mục đích phá hoại chính quyền mà việc Dương Tam Kha lên ngôi là ví dụ cụ thể. Tam Kha (anh vợ của Ngô Quyền) được một số thế lực cát cứ đưa lên nắm quyền đã nổi loạn, thao túng chính quyền trung ương làm nó dần suy yếu. Tam Kha và hai cháu của mình là Xương Ngập và Xương Văn lên cầm quyền chưa biết, chưa nắm rõ tình hình đất nước lúc này có cát cứ ở địa phương. Nhiều cuộc nổi dậy của các thế lực này diễn ra liên tục, nhưng chính quyền không dẹp nổi. Các thế lực cát cứ phát triển càng mạnh làm xuất hiện cục diện 12 sứ quân. Định Bộ Lĩnh có tài, có bản lĩnh nên dễ dàng thu phục, sát nhập và liên kết các sứ quân thành lực lượng thống nhất. Còn Ngô Quyền cũng có tài nhưng chưa thu phục nhân tâm của đất nước. Ông chết rồi, quần thần và các con không biết nghe ai, vừa hoang mang, không nói nhau nghe được.

3. Họ Đinh - Tiền Lê
Đinh Bộ Lĩnh là người giỏi và có tài. Trước cục diện 12 sứ quân, từ một lực lượng nhỏ ông đã đóng quân ở Hoa Lư, chiêu dụ sứ quân Trần Lãm cho minh mượn nơi dây làm căn cứ chính, từ đó chinh phục các sứ quân khác. Trong quá trình chinh phục các sứ quân, ông tìm cách thu phụ người tài ra giúp ông trong đó có Lê Hoàn, Phạm Hạp, Đinh Điền... để tạo thành sức mạnh lớn dưới ngọn cờ của một vị minh chủ có sức mạnh vô địch. Ông đi đến đâu đều phô trương sức mạnh, thanh thế của mình làm quy tụ người khác theo mình. Ông quy tụy nhiều người tài, sử dụng thanh thế của mình để uy hiếp, hợp nhất lãnh thổ. Ý muốn của kẻ mạnh là mệnh lệnh của kẻ yếu. Những người có tài đều được ông thụ phục nên trở về dưới ngọn cờ của ông, họ muốn tìm sự che chở, tạo dựng sự nghiệp. Thế lực của ộng trở nên hùng mạnh, trấn áp các thế lực khác để dẹp cát cứ, tiến hành hợp nhất lãnh thổ. Việc xóa bỏ cát cứ, tạo sự cố kết để hình thành quốc gia thống nhất phải mất thời gian dài, phức tạp.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh xưng Đế. Khúc Thừa Dụ xưng là tiết độ sứ (quan của Trung quốc), Ngô Quyền xưng vương (độc lập, ứng biến), Đinh Bộ Lĩnh xưng Đế là ngang hàng với Trung quốc. Về tên nước, nhiều tài liệu gọi là Đại Việt, nhưng nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào chữ viết thì gọi là Đại Cồ Việt => chấp nhận tên Đại Cồ Việt (Cồ, Đại có nghĩa là lớn). Nhưng đến năm 979, ông bị Đỗ Thích (do Thích mơ thấy sao sa vào miệng, điềm báo minh làm vua) sát hại. Triều đình đưa con ông là Toàn lên ngôi. Nhưng thực ra trong triều đình, vua có quyền hành lớn và sau vua còn có một bộ máy nhà nước (có một phái ủng hộ, một phái chống đối). Việc Đinh Toàn được đưa lên ngôi là do sau ông có cả một quyền lực của những người đưa ông lên. Những người nắm quyền lực nhiều nhất lúc đó là Lê Hoàn, Dương Vân Nga. Lê Hoàn thống lĩnh quân đội (1 triệu quân), nắm nhiều quyền lực nên đưa Đinh Toàn lên nắm quyền là chuyện bình thường. Trong thời gian Toàn nắm quyền, Lê Hoàn ngày cang thâu tóm nhiều quyền lực hơn. Nhà Đinh suy yếu, nhà Tống ở Trung quốc đe dọa xâm lăng nước ta. Trong lịch sử, Việt Nam yêu thì Trung quốc kiếm cớ xâm lược, còn Việt Nam mạnh thì yên ổn, không có vấn đề gì. Nhà Đinh suy yếu, lộn xộn, vấn đề trên được đặt ra.
Lê Hoàn thâu tóm quyền lực vì ông ý thức được tâm lý của dân tộc (cần phải làm việc đó). Ông thâu tóm quyền lực, sau lưng còn có Dương Vân Nga. Hai người có quan hệ với nhau từ khi Đinh Bộ Lịnh còn đang nắm quyền. Khi Lê Hoàn cầm quyền thì quyền lực dần rơi vào tay họ Lê, sau ông còn có nhiều người khác muốn nắm quyền. Họ Đinh xung khắc họ Lê do phe phái, mâu thuẫn. Lê Hoàn suy nghĩ, nếu như đứng dưới vỏ bọc là Đinh Toàn thì quá phức tạp và có nguy cơ bị Tống xâm lược nên ông quyết định "cướp ngôi" họ Đinh, thực chất là cuộc chuyển giao quyền lực nhẹ nhàng không đổ máu. Việc ông lên ngôi là phù hợp với yêu cầu của đất nước, thể hiện được ý nguyện của nhân dân và cả những người ủng hộ ông lên nắm quyền
Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi đã tiến hành kháng chiến chống Tống, Champa và nỗ lực xóa bỏ cát cứ, đặt biệt ở các vùng núi xa trung ương có tính tự trị cao. Ông có 13 con, trong đó là có 11 con trai và ông thực hiện chính sách phân phong đất đai cho các con. Chính chính sách này đã bị các thế lực cát cứ lợi dụng, họ tìm cách lôi kéo các con của Lê Hoàn về phía mình để cát cứ chống lại trung ương. Sau khi ông mất, các con ông được sự giúp đỡ của các thế lực cát cứ tiến hành cuộc chiến tranh giành ngôi 8 tháng đầy quyết liệt. Sau cuộc nội chiến 8 tháng, cuối cùng Lê Long Đĩnh đại thắng và giành được ngôi vua. Đĩnh là người độc ác, tàn nhẫn và có tính cách dứt khoát do bị các thế lực bên dưới chi phối. Triều của họ Lê có quyền lực từ cuộc đảo chính (sau ông có nhiều người). Nhiều người ủng hộ ông lên ngôi => bộ máy nhà nước của nhiều người khác nhau. Nhà Lý, Trần, Hồ và Lê sơ đều tranh thủ lực lượng, có tài biết sử dụng người tài. Lê Lợi lên ngôi là nghi kỵ, sát hại người tài giỏi. Lê Long Đĩnh lên ngôi trong tình huống không bình thường (giành giật ngôi vua), không trăn trở, day dứt => ngang tàng. Năm 1009, Lý Công Uẩn nổi lên bắt đấu có vai trò quan trọng trong triều đại Long Đĩnh. Ông có bản lĩnh, dám nghĩ dám làm và có đứt độ: sống trong nhà chùa, trưởng thành trong gian khó nên tìm thấy trong số đông các thế lực trong triều đình có tiếng nói chung. Trong hoàn cảnh quyền lực rơi vào tay đình thần, chính quyền suy yếu nên vai trò nhà sư nổi lên với Lý Công Uẩn, có tài năng, đức độ và đã quy tụ được nhân dân.

4. Họ Lý:
Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, chứng tỏ ông có tầm nhìn về vị trị chiến lược của Thăng Long. Khi Lê Hoàn mất, nhà nước không kiểm soát được đất nước, các địa phương độc lập và các nhóm chống đối triều đình còn nhiều. Trong một đất nước chưa phát triển thì việc định đô ở Hoa Lư là phù hợp bởi nơi đây có địa thế hiểm trở thuận lợi cho phòng thủ, thích hợp với thời kỳ đầu, về mặt ảnh hưởng thì Hoa Lư không bằng Đại La. Việc ra đời Chiếu dời đô của Lý Thái tổ là thể hiện rõ Thăng Long là nơi có địa thế thuận lợi "rồng cuộn hổ ngồi", xứng tầm là thủ đô lâu đời của nước ta. Trên Trái đất, Việt Nam là nước có nhiều kinh đô. Thăng Long là trung tâm đất nước vì phía bắc giáp Trung quốc, phía nam là Đèo Ngang. Đất nước là quốc gia nông nghiệp nên Thăng Long thực sự là trung tâm thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông thuận lợi (chặn các cuộc tấn công của giặc khi đất nước suy yếu. Chính quyền mạnh nên dời đô ra những nơi hội tụ được 4 phương, thuận lợi cho việc quản lý đất nước, giao thông và kinh tế, địa thế thuận lợi. Việc dời đô là quan trọng và Thăng Long là kinh đô nước ta (tồn tại chính thức), nhà Mạc dời đô về Cao Bằng (không có giá trị về mặt đất nước) ý thức phong kiến khó có thay đổi. Nhà Hậu Lê tồn tại dai dẳng, Nguyễn Huệ khi tiến quân ra bắc dẹp họ Lê - Trịnh, nhưng thực tế không đụng tới nhà Lê do Huệ sợ lòng dân. Triều đại chỉ tồn tại khi lòng dân theo và thuận theo, còn triều đại mục nát suy yếu thì lòng dân không tuân theo được. 
Năm 1054, Lý Thánh tông đổi tên nước thành Đại Việt, trước đó là Đại Cồ Việt. Triều Lý có 8 vua, bắt đầu là Thái tổ, Thái tông.... kết thúc là Chiêu Hoàng. Các vị vua đầu tiên đều có đóng góp với đất nước, góp phần hình thành chế độ phong kiến Việt Nam phát triển, đạt nhiều thành tựu. Một số tài liệu nhận định rằng chế độ phong kiến là lạc hậu, cản trở sự phát triển của xã hội nhưng thử nghĩ lại, nếu không có chế độ phong làm sao có sự phát triển đó ? Chúng ta nhìn vào sự phát triển. Phong trào đấu tranh của nhân dân (chính nghĩa, phi nghĩa) theo quan điểm giai cấp. Nhà Lý phát triển đến thời Cao tông thì suy yếu là quy luật lịch sử. Nhìn lại lịch sử ta thấy không có vương triều nào tồn tại vĩnh cửu, đều theo quy luật sinh - trưởng - suy. Thời Lý, vương triều mới được hình thàh do công sức của tập thể, ngôi vị và tập ấm. Bộ máy nhà nước thời Lý chưa hoàn chỉnh. Muốn hoàn chỉnh nhà nước trước tiên phải có bộ máy hoàn chỉnh, có luật pháp, quân đội. Thời Lê Hoàn thì ông có tham khảo luật của nhà Tống nhưng không đủ khả năng áp dụng. Về mặt khoa học, thiết chế phong kiến phương Đông tồn tại chế độ làng xã riêng. Văn hóa Trung Quốc vào nhưng không được người Việt tiếp thu, nhưng sau khi độc lập lại được người Việt tiếp thu, chọn lọc cho phù hợp tình hình nước ta.
Một vấn đề đặt ra là nhà Lý tham khảo luật Trung Quốc, mà lúc trước thời Đinh - Tiền Lê, vua đặt ra luật pháp tùy tiện. Ý vua là luật pháp. Về sau khi nước ta phát triển lên, chính quyền ta chủ động tiếp thu văn hóa Trung hoa, ban hành luật pháp. Luật pháp đăt ra nhiều vấn đề phù hợp với đất nước, nhân dân và đươc nhân dân thực hiện nghiêm túc. 
Nhà Lý suy vong là do chính quyền bị ngoại tộc thao túng. Các vua Lý sử dụng quan lại không thống nhất, chủ yếu dùng nhiều người ngoại tộc vào nắm chính quyền, thao túng làm sụp đổ chính quyền. Thời Trần, rút kinh nghiệp từ nhà Lý, Trần Thủ Độ thực hiên hôn nhân nội tộc nhằm loại bớt việc ngoại tộc tham gia chính quyền, dẫn đến chính quyền họ Trần có yếu điểm là làm  các nhóm quyền lực bị phân rã.
Vương triều phát triển đòi hỏi bộ máy nhà nước vững mạnh, thu hút nhiều nhân tài => phát triển khoa cử, tập ấm và tiến cử. Giai đoạn đầu, các vua thực hiện chế độ tập ấm (cho con cháu dòng tộc, người có công hưởng tập âm, về sau thì nhân lên) => suy yếu nội bộ chính quyền. Đất nước phát triển đòi hỏi quản lý hiệu quả nhưng quan lại trong triều đình (nội tộc) không đủ mà phải dùng người ngoại tộc đưa vào. Về sau, ngoại thích thâu tóm quyền lực, thực hiện chế độ tiến cử người của mình vào chính quyền, lũng đoạn làm chính quyền trung ương nhà Lý suy yếu. Người tiêu biểu nhất là Trần Thủ Độ (ngoại thích được người họ Lý đưa vào chính quyền). Ông có tài, có nhiều mối quan hệ với dòng tộc vua Lý và bên ngoài nên về sau được vua ưu ái, cho giữ chức quan trong và trở thành trụ cột chính của họ Lý. Ông suy nghĩ, tìm cách làm sao cho họ Trần được vào chính quyền mà không mất công sức nào, khi lúc này Nho giáo dần dần có ảnh hưởng sâu vào nước ta và tư tưởng trung quân của nó chưa ăn sâu vào tâm thức người Việt ? Để tìm câu trả lời, Thủ Độ tìm cách len lỏi vào trong nội bộ nhà Lý, trong hoàn cảnh đất nước đang yên bình. Thủ Độ tiến hành những công việc đó một cách chậm rãi, từ từ và chắc chắn. Ông hội tụ những điều kiện cần thiết chuẩn bị cho cuộc chuyển giao quyền lực buộc vua cuối cùng là Chiêu Hoàng nhường ngôi cho cháu là Cảnh. Trong bối cảnh đó, nhân dân và thế lực cát cứ dần quy thuận nhà Trần, họ Lý bị loại dần.
Vấn đề nhà nước khuyết khích Phật giáo phát triển. Có 5 nội dung chính:
- Nhà nước có chính sách khuyến khích Phật giáo phát triển
+ Lý Công Uẩn xuất thân là nhà chùa nên khi ông lên tạo điều kiện cho tôn giáo này phát triển. Phật giáo phát triển có cơ sở xã hôi vững chắc. Phật giáo có vị trí từ thời Đinh - Tiền Lê, trong khi trước đó vào thời Bắc thuộc, Việt Nam bị nội thuộc, nhân dân mất nước tìm chỗ dựa, và nhà chùa trở thành nơi nuôi dưỡng và không thể thiếu.
+ Nhân dân mất nước, tìm chỗ dựa nên giáo lý nhà Phật trở thành chỗ dực đang tin cậy của họ. Các cuộc đấu tranh diễn ra tổng hợp dưới màu sắc Phật giáo diễn ra quyết liệt. Khi chính quyền thành lập, vua quan còn quản lý đất nước hẹp (dưới đao kiếm) chủ yếu là đấu tranh, ngoài ra để nhà nước được vững chắc, chính quyền đã dùng tôn giáo như một hình thức quản lý đất nước bằng tinh thần. Tôn giáo được chính quyền lựa chọn lúc đó là Phật giáo, và nó thực sự làm chỗ dựa cho thể chế nhà nước mới sắp được hình thành. Giáo dục là thiết thực nên chính quyền mời nhà sự hỗ trợ mình về tổ chức chính quyền, giáo dục. Trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập, nền giáo dục chưa định hình nên nhà chùa là nơi thực hành giáo dục, bảo tồn các giá trị văn hóa. Nhà nước chưa có giáo dục, nhà sư là người có tri thức nên được tuyển dụng vào chính quyền, giáo dục và điều đó có tác dụng rõ rệt, đáp ứng yêu cầu của nhà nước. Dưới thời Đinh - Tiền Lê, nhà sư là bộ phận không thể thiếu. Nhà Lý trân trọng Phật giáo, nâng Phật giáo lên cao.
- Phật giáo tham gia vào bộ máy nhà nước, cụ thể là Tăng quan. Nhà sư là cố vấn, quốc sư vì họ có điều kiện (chiến tranh là số 1). Phât giáo càng phát triển thì nhà sư càng có uy tín lớn nên được nhân dân ủng hộ, nhà nước chính trị thuận lợi. Nhà vua cần uy tín, trí tuệ của quần thần và của chính minh, nên khi thấy Phật giáo phát triển và phổ biến trong nhân dân thì đưa nhà sư vào làm Tăng quan, để nhận được sự ủng hộ của họ cho chính quyền làm chính quyền vững mạnh hơn và ngược lại.
- Nhà chùa là trung tâm văn hóa, giáo dục. Khi giáo dục phong kiến phát triển thì nhà nước quan tâm ở trung ương, còn địa phương (làng xã) thì do nhà chùa quản lý (giáo dục chuẩn mực xã hội, đạo đức). Nhà nước sử dụng giáo lý Phật giáo là chuẩn mực xã hội. Xã hội Việt Nam nền tảng là làng xã (hệ thống hương ước làng xã) thách thức trung ương, là nơi lưu trữ các giá trị đạo đức. Luật pháp là chuẩn mực tối thiểu (có giới hạn), đạo đức là chuẩn mực tối đa. Nhà Lý có luật pháp, hương ước là quan trọng. Đạo đức có Nho - Phật và Phật là số một, Nho giáo chỉ định hình. Khi xã hội chưa phát triển, kém văn minh thì con người ứng xử với nhau dẫn tới hình thành chuẩn mực => xã hội lý tưởng. Thời nguyên thủy, con người thương yêu nhau nên tồn tại. Khi xã hội phát triển, nhà nước đặt ra luật pháp để ràng buộc xã hội. Chuẩn mực xã hội được phổ biến trong pháp luật. Xã hội phát triển thì Nho giáo dần phát triển thành chuẩn mực xã hội chủ đạo vì chuẩn mực của nó rõ ràng (quy ước), xã hội ổn định. Thời Lý - Trần vua với dân gần gũi nên Phật giáo hòa vào giúp nhà nước phát triển. Vua tiếp nhận hết những giáo lý của nó và áp dụng phù hợp với tình hình đất nước. Về sau khi nhà nước phát triển lên chuyên chế trung ương tập quyền, để quản lý chặc chẽ Nhà nước đưa Nho giáo lên thống trị và Phật giáo bị đẩy ra khỏi chính trường (Tam giáo đồng huyết). Nho giáo vươn lên thành chuẩn mực, điều khiển quan hệ và ổn định chính trị.
- Giáo lý Phật giáo là chuẩn mực xã hội, vì nó phù hợp với xã hội thời bấy giờ. Phật giáo phù hợp với chuẩn mực xã hội, được xã hội tiếp nhận.
- Sự tiếp nhận của nhân dân. Trong điều kiện nhà nước hòa bình, chính quyền tiếp nhận, ủng hộ Phật giáo phát triển, xây dưng nhiều chùa chiền. Với chức năng là nơi lưu giữ giáo lý Phật giáo, nhà chùa tiếp nhận Phật giáo và mở rộng ảnh hưởng ra làng xã và được nhân dân ủng hộ và tiếp thu. Nhà chùa sinh hoạt tôn giáo nen nó là nơi truyền bá văn hóa, phát triển cộng đồng xã hội nên được nhân dân ủng hộ.
5. Họ Trần - Hồ:
* Cải cách Hồ Quý Ly
Nhà Trần rút kinh nghiệm sau sự kiện nhà Lý mất, rồi quyết định:
- Quý tộc Trần thực hiện nội hôn (Trung quốc có nội hơn, xem trong Hồng Lâu Mộng) đảm bảo quyền lợi và ngôi vua không bị rơi vào tay ngoại thích.
- Tránh những biến động chính trị khi vua qua đời (Lê Hoàn mất => nội loạn xảy ra), thực hiện chế độ Thái thượng hoàng.
- Mở rộng khoa cử để tuyển dụng quan lại. Nhà Trần có 12 vua, mở đầu là Thái tông (do Thủ Độ sắp đặt để lên ngôi trong hoàn cảnh thuận lợi), Hồ Quý Ly cũng thực hiện cải cách như Thủ Độ, nhưng hoàn cảnh không thuận lợi nên thất bại.
Sự ổn định đất nước được duy trì đến thời Dụ tông thì suy yếu. Yêu cầu nhà nước phức tạp đòi hỏi phải có chuẩn mực mới thay thế Phật giáo, và Nho giáo chính thức dần thay thế trở thành chuẩn mực do tư tưởng, quy định của nó phù hợp với tổ chức xã hội, phục vụ cho việc củng cố quyền lực ở trung ương, được trung ương sử dụng để quản lý xã hội. Hồ Quý Ly rất giỏi, xuất thần từ khoa cử, dùng quan hệ hôn nhân để dần dần len lỏi vào chính quyền họ Trần. Đất nước bị sức ép bên ngoại, họa xâm lược của nhà Minh mà nhà Trần lúc này suy nhược lắm nên Quý Ly tiếm ngôi vua chỉ còn là vấn đề thời gian. Hồ Quý Ly sắp xếp mọi việc (kể cả việc phế lập các vua), tập trung mọi quyền lực trong tay. Quý tộc Trần chống đối, nhà Minh kiếm cớ xâm lăng nên Quý Ly dùng quyền lực tối thượng của mình, ra tay phế cháu ngoại là Thiếu đế rồi tự lập lên ngôi. 
Hồ Quý Ly có bất lợi là ông lên ngôi trong hoàn cảnh nhân dân bất phục chính quyền (nhất là vụ Quý Ly cướp ngôi làm họ phẫn nộ), ông bị phê phán thậm tệ. Nhà Trần có gắn bó với nhân dân nên có uy tín lớn. Các vua Trần để lại sự ủng hộ của nhân dân, củng cố vững chắc chuẩn mực đạo đức Nho giáo, nên nhân dân ủng hộ nhiệt tình và không có chống đối. Hồ Quý Ly hành động thực tế hơn, không chần chừ đã tiến hành cướp ngôi nhà Trần => mất sự ủng hộ của nhân dân, sát hại quan lại họ Trần => lên ngôi chịu nhiều sức ép lớn. Lên ngôi ít lâu, họ Hồ nhận chức chư hầu và đã phải chịu sức ép từ nhà Minh ở Trung quốc. Nhà Minh kiếm cớ xâm lược, vi phạm nguyên tắc tôn chủ - chư hầu trong quan hệ ngoại giao Việt - Trung thời phong kiến. Theo nguyên tắc này thì tôn chủ bình đẳng với chư hầu, không được xâm phạm chủ quyền của chư hầu và bảo vệ chư hầu khỏi sự xâm lăng bên ngoài, bảo vệ sự triều cống đều của chư hầu với tôn chủ (thể hiện tinh thần là nhiều), thể hiện sự thần phục của Đại Ngu với nhà Minh Trung quốc. Thiên triều ban phát vât phẩm cho chư hầu và chư hầu phải triều cống đều đặn, không sơ suất gì.
Hồ Quý Ly bị nhiều sức ép ở trong nước và ngoại bang. Trước tình cảnh đó, ông tiến hành cải cách khởi phát vào cuối thế kỷ XIV thời vua Nghệ tông nhà Trần, cải cách này diễn ra tổng thể trên nhiều mặt của cuộc sống nhân dân. Ông kết thúc vương triều cũ, khởi đầu vương triều mới bằng những biện pháp, cách thực cải cách mới. Trong hoàn cảnh đó, hành động của ộng chỉ là giải pháp tình thế. Các cải cách chính của ông:
+ Kinh tế: 
- Phát hành tiền giấy (phù hợp trình độ phát triển) thay đổi vật chất và là trọng tâm lớn của cuộc cải cách. Tiền là vật ngang giá, không phải nhu cầu của con người làm của cải để tiêu dùng. Ông gom đồng để làm súng (xuất phát từ thực tiễn và có giá trị), nhân dân phản ứng quyết liệt (chưa có nhu cầu phải thay đổi).
- Phát triển nông nghiệp, thúc đẩy thương nghiệp phát triển.
+ Văn hóa: đề cao chữ Nôm. Chữ Nôm của ông là sự đề cao tinh thần dân tộc, khẳng định sự độc lập về văn hóa, ngôn ngữ. Nho giáo là tư tưởng được khẳng định (xã hội đòi hỏi chuẩn mực; Phật giáo tỏ ra lỗi thời và không phù hợp với tình hình lúc đó. Nho giáo đi vào khẳng định sự phân chia đẳng cấp, được lồng ghép vào từng bước. Địa phương phát triển theo hướng đích thực tinh thần, không là thiết chế, Nho giáo là chuẩn mực và là công cụ điều chỉnh xã hội)
+ Đối ngoại, đánh Chiêm Thành, cắt đất cho nhà Minh (Hồ bị suy yếu, không phải là cách làm hay)
+ Quốc phòng: 
- Dời đô về Thanh Hóa (quê hương của ông) do có ngôi vị => tìm chỗ dựa ở nhân dân.
- Đặt tên nước là Đại Ngu do chịu ảnh hưởng tư tưởng nhà nước Trung quốc thanh binh thời Ngu Thuấn => có tham vọng xây dựng nhà nước hòa bình như thời Ngu Thuấn, phát triển
Thất bại của Hồ Quý Ly là tất yếu. Hồ Quý Lý rất giỏi, có tâm huyết nhưng không hợp thời. Ông gặp 3 bất lợi: lòng dân không theo, đất nước bị kẻ thù đe dọa dẫn tới nhà Minh xâm lược, sự chống đối bên trong của quý tộc họ Trần. Ông đơn độc đối phó với nhà Minh, không nhận được sự đồng thuận từ nhân dân.
=> Hồ Quý Ly có đủ trí tuệ để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo; nhưng thời cơ bất lợi nên ông thất bại.

6. Khởi nghĩa Lam Sơn và sự thành lập nhà Lê
Nhiều phong trào kháng chiến nổ ra. Đất nước lâm nguy, tinh thần đoàn kết trỗi dậy, nhất là Lê Lợi => số phận an bài, nhiều phong trào nổ ra và nhen nhóm nhiều lực lượng chống quân Minh lớn, quy tụ người yêu nước và dung hòa vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Nghĩa quân Lam Sơn nhỏ, trú đóng ở nơi có địa thế thuận lợi dễ phòng thủ, quy tụ lực lượng. Nghĩa quân quan hệ tốt với nhau, Lê Lợi khôn khéo: lực lượng mạnh thì phản công, lực lượng bị suy yếu thì ông cho củng cố lực lượng (không  xung đột với quân Minh). Nghĩa quân xuất hiện vào lúc lực lượng khác đã suy yếu => hội tụ, tụ hợp lực lượng (thiên thời). Lê Lợi có đấu tranh ngoại giao, quân sự; thắng quân địch thì ông đấu tranh quân sự - ngoại giao để giành độc lập hoàn toàn. Lê Lợi lên ngôi và cử người sang Trung Quốc xin phong vương, nhà Minh không chịu. Ông khéo léo đưa Trần Cảo sang xin phong vương và sau cuộc thương lượng kéo dài nhiều năm của minh với nhà Minh, Lê Lợi mới được vua Minh phong vương. Thế chúng ta mới thấy, Lê Lợi dùng hai giải pháp: quân sự - ngoại giao kết hợp, trên thế thắng để buộc kẻ thù sắp thua phải thừa nhận chiến thắng của mình và chúng phải rút quân về nước. Chúng ta đánh bại địch trên mặt trận quân sự, chừa lại mặt trận ngoại giao để "chơi" với địch; sự thật là trong cuộc chiến ở phương Đông, ngoại giao là độc đáo (cuộc chiến thường kết thúc là thắng lợi về ngoại giao). Việt Nam là nước nhỏ nên thắng lợi quân sự sẽ tạo điều kiện cho ngoại giao giành thắng lợi. 
Năm 1428, nhà Lê sơ được thành lập và giữ nguyên quốc hiệu là Đại Việt. Vua Lê tham khảo hình thức bộ máy nhà nước thời Trần, Hồ, nhà Minh (Trung Quốc) để xây dựng bộ máy nhà nước cho mình, thể hiện sự khoa học và văn minh (tổ chức chặt chẽ). Thời Lê, nhà nước hoàn thiện đến mức cao nhất (sau này thì nhà Nguyễn khôi phục lại). Luật pháp là quy định bắt buộc. Luật Hồng Đức 1483 có tham khảo luật Đại Minh (Trung quốc) nhưng có tính tiến bộ thể hiện sự sáng tạo: tôn trong phụ nữ, bảo vệ quốc gia và Nho giáo có áp dụng nhưng không triệt để trong bộ luật này. Thời Lê, Nho giao là chuẩn mực xã hội và khắc khe hơn, được thực thi nghiêm túc trong nhà nước, nhất là đào tạo bộ máy quan lại; quân đội được tổ chức theo kiểu: ngụ binh ư nông. Tính đoàn kết dân tộc được phát huy. Thời Trần có đoàn kết các dân tộc thiểu số bằng cách gả công chúa cho tù trưởng dân tộc, cử người thân tín trấn giữ biên ải; thời Lê là cử Lưu quan là những người thân tín đi quản lý vùng biên ải (quản lý chặt chẽ, cố kết chặt chẽ với dân tộc thiểu số để bảo vệ quốc gia). Sức mạnh trung ương đủ đạt đến mức độ cao, thu phục các dân tộc thiểu số và ngược lại.
Quan hệ Lê Lợi với người có công, lúc đầu thì trọng dụng người có công nhưng về sau những người có công chịu số phận bi thảm (phò vua => rút lui). Có 2 quan điểm: (1) Lê Lợi có tâm địa hẹp hòi, sợ người tài. Người giỏi có cá tính nên rất thạo việc, xong việc thì họ coi thường và rơi vào lao lý; (2) người có công thường có quyền lợi nhiều (người kề vai sát cánh với mình, ý trung nhân), họ được quản lý nhà nước và luật pháp; hô vi pham chẳng qua chỉ là chủ quan, kiêu ngạo (quyền lợi). Về tuyển chọn quan lại: Vương triều được lập lên do nhiều dòng họ gắn sức cùng Lê Lợi mà thành (gắn kết Vua - dòng họ rất mờ nhạt). Vua lên ngôi có nhiều quan lại, đại thần và tổ chức quan lại rất quan liêu (khoa cử, giáo dục). Khoa cử, tập ấm là phương thức tuyển chọn quan lại chủ yếu. Ai có cơ hội thì được làm quan (trừ con hát, tội phạm). Quan hệ Trung - Việt được cải thiện: Vua Minh công nhận Lê Lợi là Vua Đại Việt, thu phục Lợi làm chư hầu. Trung Quốc không còn sức nên bắt Lợi phải cống nạp, thể hiện sự thu phục. Phương thức ngoại giao của Lợi với nhà Minh là thần phục.