Lịch sử là môn học nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử cụ thể. Để giúp hình dung quá trình lịch sử một cách cụ thể, người ta chia lịch sử theo từng thời kỳ. Các nhà sử học marxid đã dựa theo học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của Marx chia lịch sử thành 5 thời kỳ: nguyên thủy, cổ đại (chiếm hữu nô lệ), trung đại (phong kiến), cận đại và hiện đại, tuy nhiên cách phân kỳ trên chỉ đúng cho phương Tây, đặc biệt là châu Âu (các công trình nghiên cứu của ông tập trung chủ yếu ở châu Âu, nơi mà người ta cho rằng là "cái nôi" khai sinh ra thế giới). Riêng phương Đông, mặc dù cách phân kỳ lịch sử là giống phương Tây, nhưng nó khác nhau ở hình thức thể hiện. Có những hình thức mà chỉ phương Tây có nhưng phương Đông lại không có hoặc là họ bỏ qua, tiến thẳng lên một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Ví dụ, ở phương Tây có chế độ chiếm hữu nô lệ nhưng ở phương Đông thì không có (cá biệt ở một số nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản nó lại có chế độ này nhưng không được phổ biến. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, các nhà khảo cổ đã tiến hành đào bới lăng mộ quý tộc thì thấy có người chủ chết, theo sau là tài sản (còn khá nguyên vẹn) và cá biệt, một số mộ còn có chôn theo nhiều người khác mà hầu hết họ là gia nhân (có tài liệu nói là nô lệ). Từ bằng cứ này, một số người cho rằng vào thời cổ đại, những nước này đều có chế độ chiếm hữu nô lệ, một số khác cho là không phải mà là đang diễn ra một chế độ khác không phải chế độ nô lệ (?). Về vấn đề chủ nghĩa tư bản, vậy thì tại sao phương Tây lại có chủ nghĩa tư bản mà phương Đông lại hạn chế hoặc hầu như bỏ thẳng chủ nghĩa tư bản để tiến lên một hình thức cao hơn là chủ nghĩa xã hội (hình thức ban đầu là cộng sản chủ nghĩa) ? Như ta đã biết ở phương Tây, cách mạng tư sản nổ ra đầu tiên ở Hà Lan (1566), nổ ra ở nơi có chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh nhất. Cách mạng nổ ra, giành thắng lợi dẫn đến thành lập nước Cộng hòa Hà Lan (1581, Đồng minh Utrect - đồng minh bao gồm các tỉnh miền Bắc xứ Netherland họp lại mà thành) phản ánh sự thắng thế của giai cấp tư sản vì trước đó, giai cấp này có mặt rồi (nó hình thành do tiền đề là các thành thị ra đời, nhưng chính các cuộc phát kiến địa lý mới là cái chính dẫn đến sự ra đời của giai cấp này), đến năm 1566 tư sản chiếm vị trí chủ đạo. Còn ở phương Đông, các nước như Trung Quốc, Việt Nam trong thời hậu kỳ phong kiến, chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu xâm nhập và có mầm mống ở đó, nhưng nó không là chủ đạo. Pháp xâm lược, Việt Nam học hỏi văn minh Pháp, Pháp bóc lột, đưa hình thức tư bản chủ nghĩa vào nhưng nó cũng không chiếm vị trí chủ đạo trong đất nước. Năm 1858 là thời kỳ sóng gió, 1945 là thời kỳ độc lập và đến 1975 là thống nhất đất nước.
Ở phương Đông, Marx có nghiên cứu và cho rằng ở đây tồn tại một phương thức sản xuất là ông gọi là phương thức sản xuất châu Á mặc dù ông đã biết (và biết chút ít nhiều) về xã hội phương Đông. Trong bài viết "Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ", Marx nhìn thấy các đặc thù của xã hội phương Đông đó là Nhà nước chuyên chính phong kiến (là hình thái kinh tế - xã hội thứ ba theo ông, có 3 bộ là bộ tài chính, bộ chiến tranh và bộ công trình công cộng) tồn tại song với công xã nông thôn của người dân. Về chế độ công xã nông thôn, Mác khẳng định, đó là những trung tâm nhỏ bé tồn tại vào mối liên hệ giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp.(Trong công xã nguyên thủy, nông nghiệp và thủ công nghiệp không tách rời nhau). Marx cho rằng mình biết ít nhiều về châu Á và biết nhiều nhất là châu Âu, các luận điểm của ông chỉ áp dụng vào châu Âu có lẽ vì ông ở châu Âu, hoạt động cách mạng chủ yếu là ở châu Âu nên ít có điều kiện sang châu Á mà đặt biệt là Ấn Độ để nghiên cứu, chứng minh cho các luận điểm của mình. Lý do thứ hai có thể xảy ra đó là ông trong quá trình hoạt động chưa tiếp xúc được nhiều các nhà cách mạng châu Á sang châu Âu hoạt động. Lý do thứ ba không kém phần quan trọng đó là tình hình châu Á thế kỷ XIX rất phức tạp, không thuận lợi nếu ông trực tiếp sang phương Đông tìm hiểu. Có thể ông nghiên cứu được ít nhiều về châu Á thông qua các tài liệu, thư tịch cổ châu Á mà ông hiện có hay sưu tầm. Những nghiên cứu cụ thể về phương thức sản xuất châu Á có thể được coi là sự bổ sung cho lý luận của ông về các vấn đề kinh tế - xã hội của một số nước trên thế giới.
1. Dấu tích người tối cổ trên lãnh thổ Việt Nam
Con người đã xuất hiện từ thời xa xưa trên đất nước Việt Nam rộng lớn. Có người cho rằng: "Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người". Câu này đúng và chúng ta sẽ xem xét và có những ý kiến xác đáng cho câu này.
Dựa vào các thành tựu của khảo cổ học hiện đại, người ta khẳng định người tối cổ (homo habilis) xuất hiện đầu tiên ở vùng Đông Bắc Phi, Nam Phi, Bắc Kinh, Java và cả ở Việt Nam. Ở Việt Nam, người tối cổ xuất hiện đầu tiên ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn). Khi kiểm tra lại, ta nhận thấy vào thời gian đó, quê hương Việt Nam chưa có tên gọi cụ thể và cho đến nay, khảo cổ học đã đi xác định những nơi khác có niên đại sớm hơn. Châu Phi là nơi xuất phát của loài người là bởi lẽ, nó nằm ở ngã ba của 3 châu lục lớn và cũng chính nơi này, con người đã tỏa ra khắp bốn phương để sinh sống (Châu Phi, Châu Á (trong đó có Việt Nam). Ở Việt Nam và nhiều nơi khác, người ta tìm thấy các di chỉ của người tối cổ như răng, xương thú, các công cụ đá (hiển nhiên là người tối cổ chỉ cầm và sử dụng chứ chưa có sự chế tác nào). Vấn đề về cái nôi loài người hiện đang trong vòng tranh luận và ý kiến trên chỉ có ý nghĩa tương đối mà thôi.
Viết lại lịch sử thật không đơn giản. Sử liệu Việt Nam thời nguyên thủy hầu như không có tài liệu thành văn nào viết lại (kể cả tư liệu đơn giản nhất đó là giải mã các chữ viết của người thời đó có lẽ chưa được thực hiện hay đang trong nghiên cứu) mà phụ thuộc nhiều vào các phát hiện của khảo cổ học. Chúng ta dùng thành tựu của khảo cổ học để khắc họa sơ lược về quá trình phát triển của loài người, tìm bản chất của quá trình đó kết hợp xác định niên đại chứng minh rằng Việt Nam là quê hương của loài người (dựa theo các bằng chứng khảo cổ hiện có). Như vậy, dựa trên các thành tựu khảo cổ học hiện đại, người ta khẳng định rằng vào khoảng 30 - 40 vạn năm trước đây, người tối cổ đã ra đời và từng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Sự chuyển biến từ người tối cổ sang người tinh khôn (homo sapiens)
Tiếp theo các phát hiện đầu tiên ở Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Núi Đọ... các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các dấu vết kế tiếp của người tối cổ ở Hang Hùm, mái đá Ngườm, Sơn Vi, Bắc Sơn... Việc tìm thấy các dấu vết con người theo trình tự như trên cho ta thấy người tối cổ ở Việt Nam có bước phát triển mới. Từ việc tiến hóa thành người tinh khôn giai đoạn sớm, họ đã hình thành ý thức sống thành bầy đàn để chống lại những nguy hiểm bên ngoài và tồn tại lâu trong giới tự nhiên, nơi ở của họ chủ yếu tập trung ở các vùng núi. Việc phát hiện các dấu tích trên chứng tỏ, cộng đồng người tinh khôn có sự chuyển biến sâu sắc: từ vùng núi họ dần dần chuyển xuống đồng bằng, ven biển để cư trú, từ việc thay đổi địa điểm dẫn đến thay đổi về cộng đồng người. Nếu như lúc đầu, họ chỉ sống trên núi một cách biệt lập bên ngoài, ít quan hệ giao lưu thì đến thời này, họ bắt đầu chuyển nơi ở và đồng thời cộng đồng người cũng thay đổi. Cộng đồng bắt đầu phát triển, lan tỏa ra nhiều hướng và phải chăng, sự lan tỏa này có lẽ là nguồn gốc hình thành cộng đồng dân tộc ở miền Bắc và miền Trung và có lẽ (đây cũng chỉ là phán đoán) Lạng Sơn là cái nôi của con người Việt Nam. Điều đó chứng tỏ rằng, cư dân Việt Nam có sự phát triển. Những chủ nhân của các nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình - Bắc Sơn có những mối liên hệ với nhau, phát triển liên tục lên đến đỉnh cao là chủ nhân văn hóa Đông Sơn.
Chúng ta tìm hiểu lịch sử thời nguyên thủy chủ yếu dựa trên các thành tựu của khảo cổ học, cụ thể là công cụ lao động. Thời kỳ nguyên thủy, con người nhặt được các loại đá cuội, mảnh đá trong tự nhiên làm công cụ, cá biệt một số nơi đã tìm được đá và tự ghè đẽo (ghè một mặt và sơ sài) làm công cụ, sử dụng nó vào đời sống của họ, người ta gọi giai đoạn đó là thời kỳ Đá cũ (Old stone). Sở dĩ người ta gọi là thời kỳ Đá cũ là vì, trong thời gian này, con người chỉ kiếm đá hay mảnh đá trong tự nhiên, đập hoặc ghè ra để sử dụng mà chưa có sự chế tạo hay sáng tạo nào. Còn Đá mới chính là thời kỳ con người lấy đá trong tự nhiên rồi mài nhẵn, khoang để cho nó có hình dáng nhất định và đẹp.
2. Sự phát triển của công xã thị tộc
Dựa vào các thành tựu của khảo cổ học, các nhà khoa học tìm thấy ở Nghệ An, Bàu Tró (Quảng Bình), Quảng Trị các công cụ lao động bằng đá có hình thù rõ ràng (cái rìu, bôn, đục, dao..). Kỹ thuật mài đá của họ phát triển cao: từ mài sơ sài một mặt ban đầu sang mài, ghè cả hai mặt và cao hơn là mài cả toàn bộ công cụ. Điều đó chứng tỏ, từ 6000 - 10000 năm trước đây, con người đã chính thức bước vào thời kỳ mới gọi là thời kỳ Đá mới hay nói một cách khác theo sách giáo khoa, họ chuyển từ thời kỳ Đá cũ sang thời Đá mới bỏ qua thời kỳ quan trong mà nhiều nhà khảo cổ gọi là thời kỳ Đá giữa (hay Trung kỳ đồ đá). Thời kỳ Đá mới kéo dài 4000 năm và trong thời kỳ này, con người biết sử dụng và chế tác đá một cách tinh xảo và rất đẹp. Nhiều hòn đá được mài có góc cạnh sắc bén, có hình thù rõ ràng mà người ta đoán đó là cái rìu, cái bôn đá.... Trên cơ sở sự chuyển biến đó, con người thời kỳ này chuyển sang một giai đoạn mới gọi là giai đoạn kim khí. Tại sao lại có thời kỳ này ? Bằng những tài liệu khảo cổ học và các tài liệu nghiên cứu hiện có, các nhà khoa học cho rằng vào thời Đá cũ, con người đã phát minh ra lửa, rồi từ lửa kiếm được, họ chế tác ra những đồ gốm đẹp, tinh xảo. Ở Lạng Sơn, Sơn La, Nghệ An, người ta tìm thấy các di tích đồ gốm có kỹ thuật làm bằng tay và bằng bàn xoay. Từ đất sét kiếm được trong tự nhiên, họ đem về nhào nặn, sửa chữa bằng tay để ra hình dạng mà họ thích (hình cái nồi, cái niêu, vò, hũ) đem vào bàn xoay (nếu có) làm cho thật đều, thật mịn rồi đem nung trong lò tạo ra sản phẩm là đồ gốm cứng, đẹp và tinh xảo.
Khoảng 5000 năm trước đây, con người tìm ra kim loại là vật dụng còn cứng và tốt hơn gốm (đất sét). Do yêu cầu phát triển (đời sống vật chất - tinh thần đầy đủ, công xã thị tộc đã ra đời tạo nên một trật tự ổn định, phân công lao động giữa nam và nữ đã bắt đầu từ thời bầy người và tiếp tục thực hiện. Đàn bà làm công việc nhẹ hơn và gần nhà còn đàn ông làm những công việc nặng nhọc. Để làm được các công việc đó, lúc đầu đàn ông dùng các công cụ đá, nhưng về sau do công cụ này ít phổ biến nên người ta tìm kiếm một vật dụng khác thay đá (đá thì rất cứng, bền và tốt nhưng có một vật cứng hơn đá, tốt hơn đá). Và họ đã tìm ra vật liệu khác có nhiều tính năng hơn đá, đó là kim loại (metal). Kim loại đầu tiên mà người Việt tìm ra đó là kim loại đồng (copper metal). Từ kim loại này, người ta cũng sáng tạo ra một kỹ thuật mới, gọi là kỹ thuật luyện kim (metallurgical techniques) hay thuật luyện kim như nhiều sách báo có viết. Thời sơ kỳ Đá mới, người ta tìm ra đồng nguyên chất hay còn gọi là đồng đỏ (copper), về sau là đồng thau. Thời văn hóa Đông Sơn, đồ sắt xuất hiện tồn tại song song với đồ đồng, nhưng đồ sắt lúc này chưa được phổ biến. Về vấn đề ra đời đồ đồng, đồ sắt, chúng ta xem xét và đối chiếu nó trong cách phân kỳ lịch sử nguyên thủy Việt Nam. Ở Việt Nam từ đầu cho đến thời Văn Lang - Âu Lạc, lịch sử chia thành 3 thời kỳ là đồ đá, đồ đồng và đồ sắt. Đồ đá cũ chia thành 3 thời kỳ: đá cũ, đá giữa (?) và đá mới; đồ đồng chia thành 2 thời kỳ là đồng đỏ và đồng thau. Người ta khẳng định sự ra đời của đồ đồng vào cuối thời đá mới, đầu thời đại đồng đỏ là một bước ngoặc, nó đánh dấu sự cáo chung của thời kỳ đồ đá và bước vào thời kỳ tiếp theo gọi là thời kỳ đồ đồng.
Văn hóa Phùng Nguyên, chế tác đá đạt đến đỉnh cao, làm gốm, luyện kim phát triển, cư dân bắt đầu cuộc sống định cư lâu dài. Nghề nông phát triển, công cụ lao động ra đời, chăn nuôi gia súc lấy sức kéo phát triển và nó dẫn đến hệ quả là các quốc gia cổ đại được hình thành ven các con sông lớn, các nền văn minh tạo lập ở đây chủ yếu là văn minh nông nghiệp. Về lý do nghề nông phát triển, người ta cho rằng do nhu cầu ăn, uống của con người mà ra. Thời kỳ đầu còn mông muội, con người sống phụ thuộc vào tự nhiên với hoạt động chủ yếu là săn bắt, hái lượm trái cây hay các vật dụng có sẵn tuy nhiên hoạt động này có hạn chế là chỉ làm được theo mùa, theo vùng miền. Khi cư dân bắt đầu đông hơn, họ chủ động tìm kiếm thức ăn, sáng tạo hơn trong việc chế tác công cụ hay làm các công việc khác như sinh sản, chăn nuôi. Con người khác động vật nhiều chỗ như dáng đi, dáng hoạt động và nhất là có tư duy và ý thức như Durant nói "Con người là động vật có giáo dục" để nói lên điều đó. Ngoài việc sáng tạo, làm các công việc khác chỉ để kiếm sống quanh quẩn trong một khu vực riêng biệt, độc lập, con người thời kỳ đã có mối quan hệ (hay đúng hơn là giao thoa) với các vùng miền khác thông qua hoạt động trao đổi, buôn bán. Các mối quan hệ giữa người và người diễn ra đồng đều, liên tục dẫn đến xu hướng là cư dân sẽ hội tụ ở những nơi có điều kiện tốt nhất, đó là ở các đồng bằng trù phú ven sông. Các cộng đồng người lẻ tẻ đó được hình thành do hội tụ đó về sau đã cố kết với nhau hình thành tổ chức xã hội đầu tiên là Nhà nước Văn Lang, nhưng người ta vẫn đang nghi ngờ và còn đang tranh luận tìm hiểu xem Văn Lang có phải là Nhà nước đầu tiên hay không hay chỉ đơn thuần là sự cố kết hình thành liên minh bộ lạc (tribal alliances) hay cả hai ? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta tìm hiểu xem nhà nước là gì và điều kiện hình thành là từ đâu ? Nhà nước là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách và cưỡng chế, thể hiện quyền lợi của giai cấp thống trị trong xã hội có các giai cấp đối kháng nhau. Điều kiện đầu tiên thúc đẩy sự ra đời của một Nhà nước ở mọi quốc gia nói chung cũng như Việt Nam nói riêng là sự phân hóa xã hội đạt đến mức cao. Ở thời Văn Lang - Âu Lạc hội tụ đủ các điều kiện trên, nhưng trong thời kỳ này, các giai cấp bắt đầu có phân hóa nhưng chưa đủ mạnh để thiết lập một nhà nước vững chắc, với lý do là các tổ chức công xã thị tộc có gốc rễ vững chắc và rất mạnh (có người đứng đầu (bồ chính, còn gọi là Potering, có chính quyền, có luật lệ hẳn hoi hoàn toàn đối lập với chính quyền trung ương). Về cơ bản, Văn Lang - Âu Lạc đơn thuần là xã hội thị tộc, và “mặc dù trong xã hội Lạc Việt công xã thị tộc đã phân hóa mà trở thành công xã nông thôn, công xã nông thôn ấy vẫn chỉ ở giai đoạn cuối cùng của công xã nguyên thủy chứ chưa trải qua bước tiến hóa mới nào”, rằng “khó tìm thấy chứng cứ để chứng minh nước Văn Lang đã là một nhà nước thuộc phạm trù phương thức sản xuất châu Á của Mác”. Hơn nữa, các làng xã có quan hệ gần gũi với nhau và chính điều đó tạo tạo mối liên hệ và liên minh bộ lạc
Lịch sử là cái cụ thể, có tính tương đối về các sự kiện lịch sử diễn ra trong quá khứ từ đầu cho đến nay; văn minh chỉ là lát cắt của lịch sử và xã hội chính là động lực, mâu thuẫn trong sự phát triển.
Lịch sử là cái cụ thể, có tính tương đối về các sự kiện lịch sử diễn ra trong quá khứ từ đầu cho đến nay; văn minh chỉ là lát cắt của lịch sử và xã hội chính là động lực, mâu thuẫn trong sự phát triển.
Quay lại bàn về nguồn gốc loài người. Từ thế kỷ XVII - XIX, các nhà khoa học như Linnea và Lamarck mà tiêu biểu là Darwin khi nghiên cứu về nguồn gốc con người thì họ cho rằng, con người là từ loài vượn mà ra. Tất nhiên giả thuyết này ngay từ khi ra đời lập tức bị quần chúng phản ứng quyết liệt (họ cho rằng con người do Thượng đế sinh ra, Darwin nói không có bằng chứng cụ thể). Để giải cứu quan điểm đúng đắn của ông, các nhà khảo cổ học như Perthes, Dubois, Bùi Văn Trung... tiếp sức cho ông, một sự hỗ trợ rất tuyệt vời. Họ đi đến nhiều nơi, tìm thấy các di chỉ con người có gốc là vượn, hậu duệ của nó. Đến giữa thế kỷ XIX, Marx và Engels sau khi đọc tác phẩm của Darwin và chỉ ra chỗ thiếu sót, kết hợp với khảo cổ đựa ra những luận điểm mới có lợi cho Darwin. Trong tác phẩm "Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn sang người", Engels cho rằng chính lao động đã sáng tạo ra loài người. Hiện nay, khoa học hiện đại chứng minh rằng, loài vượn và loài người đều là sinh vật có hoạt động, có lao động. Nhưng trong thời kỳ đó, có một loài vượn có lẽ do đột biến nên nó tiến hóa dần thành con người có lao động cao hơn, sáng tạo.
Chương 2: Việt Nam thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc
2.1. Người Việt cổ thời Văn Lang
Như ta đã biết, Văn Lang là một liên minh bộ lạc, nhà nước sơ khai. Nhiều nhà sử học hiện nay khẳng định, Văn Lang là liên minh bộ lạc (15 bộ lạc) và là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Thậm chí, một số tài liệu có gộp Văn Lang, Âu Lạc lại thành một chứ không tách bạch làm hai và họ gọi là thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc. Các sách lịch sử văn minh Việt Nam thì gọi là văn minh Văn Lang - Âu Lạc mà một trong các tiêu chí xác định vùng đất nào đó có phải là vùng đất có văn minh không đó là chữ viết. Năm 1983, trong bài viết "Có một hệ thống chữ Việt cổ thời các vua Hùng", GS Hà Văn Tấn công bố một bảng biểu gồm 20 ký tự tìm thấy ở Trung Quốc, 7 ký hiệu tìm thấy ở Đông Sơn khắc trên các qua bằng đồng mà ông cho là chữ viết của thời Hùng Vương. Theo ông, người Việt cổ thời Hùng Vương đã có chữ viết và chữ viết này ông gọi là chữ viết biểu ý (idéogramme), không có hình dạng nhất định (nó chỉ có một hay hai nét gạch xổ xuống, bên trên vẽ nhiều nét ngang qua). Tuy ông đưa ra giả thuyết là có chữ viết nhưng không đoán chắc rằng chữ viết này là của ta mà là chữ của người Sở (Trung Quốc), ông còn cho rằng rất có thể văn hóa Đông Sơn có ảnh hưởng mạnh đến Trung Quốc (qua các di vật ông tìm thấy) và khi ông tìm đầu tiên ở Thanh Hóa (7 ký hiệu mà ông cho là chữ viết), sau đó lần sang Trung Quốc tìm trong các ngôi mộ của người Sở thì thấy chữ viết ở Việt Nam, Trung Quốc giống nhau, kết luận chữ viết này là của người Việt nhưng không chắc chắn. Năm 2001 - 2002, Trung Quốc tổ chức hội thảo về chữ Việt cổ có đại diện người Việt tham dự. Tác giả người Việt đó viết báo cáo lên hội thảo là đã tìm thấy chữ của người Việt cổ, gọi là "chữ khoa đẩu", có dạng như con nòng nọc (đã chuẩn bị nhưng chưa báo cáo). Theo báo cáo này, thứ ký tự họ tìm được chính là chữ Việt cổ mặc dù sau, các cuộc tranh luân diễn ra sôi nổi và Việt Nam ít có ảnh hưởng trong các cuộc tranh luận. Họ cho rằng việc tìm ra chữ viết đơn thuần là cho biết Việt Nam có trình độ văn minh cao hơn nhưng họ quên rằng, Trung Quốc cũng là nơi xuất phát của nền văn minh Hoa Hạ từ lâu (thế kỷ XXI - XX TCN, thời nhà Hạ), có ảnh hưởng lớn đến xung quanh nên việc người Việt công bố chữ viết cũng chỉ là tự suy diễn, chưa có luận cứ chính xác, dẫn chứng cụ thể nhưng chưa thuyết phục; ngoài ra còn vấn đề bị Trung Quốc gây sức ép do Trung Quốc có nền văn minh hơn hẳn Việt Nam. Trong quá trình hội thảo diễn ra (hội thảo này diễn ra 10 - 15 ngày), một tờ báo của Trung Quốc bất ngờ đăng thông tin về chữ viết của tác giả trên, nhưng cho rằng chữ viết này là chữ viết ngược của chữ viết đời nhà Thương Trung Quốc, nên vị tác giả người Việt trên bỏ về nước và không báo cáo.
Về vấn đề kinh đô Văn Lang, nhiều tác phẩm, sách báo viết không thống nhất. Có sách ghi là Văn Lang, có sách ghi Phong Châu, có sách ghi là Bạch Hạc, thậm chí có tài liệu còn viết kinh đô Văn Lang là Châu Khê. Trong một cuộc thi nọ, khi được hỏi: kinh đô Văn Lang là nơi nào ? Người ta đưa ra 4 đáp án, người chơi chọn là Phong Châu nhưng đáp án chương trình là Văn Lang. Họ hỏi lại thì tổng đài nói là Phong Châu, nhưng sách giáo khoa trung học viết là Văn Lang. Ở đây chúng tôi bàn thêm về sự không thống nhất khi định nơi nào là kinh đô của Văn Lang. Thời xa xưa, người ta có hai cách đặt tên kinh đô: (1) đặt tên theo họ vua và (2) đặt tên theo nơi nhà nước tồn tại.
Thời Văn Lang, Hùng Vương không có tên gọi, miếu hiệu chính mà các tên đó do người đời sau tôn kính mà đặt vào. Trong danh hiệu Hùng Vương, yếu tố Vương (Chữ Hán, có nghĩa là vua) rõ ràng là do những nhà chép sử về sau này thêm vào với suy nghĩ rằng người đứng đầu một nước phải là Vương hoặc Đế, nhưng thực tế thì không phải như vậy. Yếu tố Hùng là từ Hán dùng phiên âm một từ Việt cổ có nghĩa là từ Khunzt dùng để chỉ người đứng đầu gia tộc, người tù trưởng, người thủ lĩnh hay một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội. Vào thời Hùng Vương, vua, quan và thần dân đều không có tên gọi mà lấy tên nghề nghiệp làm tên gọi. Theo Giao Châu Ngoại Vực Ký đã nói ở trên, thời cổ người dân sống bằng nghề nông, trồng cây lạc, trên các thửa ruộng lạc, tưới tiêu bằng thủy lợi tự nhiên, dân sống trên ruộng lạc, gọi là dân lạc, thủ lĩnh của dân lạc gọi là lạc vương, dưới lạc vương là các lạc hầu, lạc tướng. Chữ "Hùng" có sau chữ "Lạc". Sách Nam Việt chí viết: Vùng đất Jiaozhi/ Giao Chỉ tương đối màu mỡ. Di dân đến sống ở đó, mới bắt đầu biết gieo trồng. Đất ở đây rặt là đất phì nhiêu đen. Khí ở đây mạnh (hùng). Cho nên bây giờ gọi những ruộng ở đây là ruộng hùng, dân ở đây là dân hùng. Có người lãnh đạo tối cao (quân trưởng) cũng gọi là vua hùng (hùng vương). Có những người phụ tá ông ấy [tức ông vuahùng] thì cũng gọi là quan hùng (hùng hầu). Chia đất ở đây để cho các tướng hùng (hùng tướng)". Đời sống vật chất - tinh thần người Văn Lang tương ứng với môi trường tự nhiên, phù hợp với sự phát triển của con người.
Về vấn đề kinh đô Văn Lang, nhiều tác phẩm, sách báo viết không thống nhất. Có sách ghi là Văn Lang, có sách ghi Phong Châu, có sách ghi là Bạch Hạc, thậm chí có tài liệu còn viết kinh đô Văn Lang là Châu Khê. Trong một cuộc thi nọ, khi được hỏi: kinh đô Văn Lang là nơi nào ? Người ta đưa ra 4 đáp án, người chơi chọn là Phong Châu nhưng đáp án chương trình là Văn Lang. Họ hỏi lại thì tổng đài nói là Phong Châu, nhưng sách giáo khoa trung học viết là Văn Lang. Ở đây chúng tôi bàn thêm về sự không thống nhất khi định nơi nào là kinh đô của Văn Lang. Thời xa xưa, người ta có hai cách đặt tên kinh đô: (1) đặt tên theo họ vua và (2) đặt tên theo nơi nhà nước tồn tại.
Thời Văn Lang, Hùng Vương không có tên gọi, miếu hiệu chính mà các tên đó do người đời sau tôn kính mà đặt vào. Trong danh hiệu Hùng Vương, yếu tố Vương (Chữ Hán, có nghĩa là vua) rõ ràng là do những nhà chép sử về sau này thêm vào với suy nghĩ rằng người đứng đầu một nước phải là Vương hoặc Đế, nhưng thực tế thì không phải như vậy. Yếu tố Hùng là từ Hán dùng phiên âm một từ Việt cổ có nghĩa là từ Khunzt dùng để chỉ người đứng đầu gia tộc, người tù trưởng, người thủ lĩnh hay một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội. Vào thời Hùng Vương, vua, quan và thần dân đều không có tên gọi mà lấy tên nghề nghiệp làm tên gọi. Theo Giao Châu Ngoại Vực Ký đã nói ở trên, thời cổ người dân sống bằng nghề nông, trồng cây lạc, trên các thửa ruộng lạc, tưới tiêu bằng thủy lợi tự nhiên, dân sống trên ruộng lạc, gọi là dân lạc, thủ lĩnh của dân lạc gọi là lạc vương, dưới lạc vương là các lạc hầu, lạc tướng. Chữ "Hùng" có sau chữ "Lạc". Sách Nam Việt chí viết: Vùng đất Jiaozhi/ Giao Chỉ tương đối màu mỡ. Di dân đến sống ở đó, mới bắt đầu biết gieo trồng. Đất ở đây rặt là đất phì nhiêu đen. Khí ở đây mạnh (hùng). Cho nên bây giờ gọi những ruộng ở đây là ruộng hùng, dân ở đây là dân hùng. Có người lãnh đạo tối cao (quân trưởng) cũng gọi là vua hùng (hùng vương). Có những người phụ tá ông ấy [tức ông vuahùng] thì cũng gọi là quan hùng (hùng hầu). Chia đất ở đây để cho các tướng hùng (hùng tướng)". Đời sống vật chất - tinh thần người Văn Lang tương ứng với môi trường tự nhiên, phù hợp với sự phát triển của con người.
2.2.1. Âu Lạc ra đời
Nhà nước Âu Lạc có quá trình ra đời đầy mâu thuẫn và phức tạp, và các nhà sử học đang trong vòng tranh luận về sự ra đời của nhà nước này. Có 2 ý kiến quan trọng trong vấn đề này: (1) nước Âu Lạc hình thành do sự xâm lược của Thục Phán và (2) nước Âu Lạc hình thành do quá trình sát nhập, mở rộng lãnh thổ của Thục Phán vào nước Văn Lang. Nhưng nhìn khách quan, chúng tôi nghiên về ý kiến sau nhiều hơn vì nó phản ánh đúng quá trình lịch sử về sự ra đời của nhà nước Âu Lạc.
Ý kiến (1) nước Âu Lạc hình thành do sự xâm lược của Thục Phán. Theo ý kiến này, vào cuối thời Hùng Vương ở phía tây bắc có bộ lạc hoạt động độc lập là Tây Âu và người lãnh đạo chính là Thục Phán. Chính quá trình thôn tính, tranh giành giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ đến Tây Âu, kích thích Tây Âu xâm lược nước Văn Lang. Theo Đào Duy Anh viết lại, ông này là con của Thục vương, vua nước Ba Thục thời Chiến Quốc (Trung Quốc). Sau khi đất nước bị quân Tần tiêu diệt, ông chạy vào nước Văn Lang, chiếm vùng Tây Vu và tiến đánh Văn Lang. Năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương Thục Phán được công bố. Ðó là truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này thì Thục Phán là con của Thục Chế “vua” của “nước” Nam Cương ở vùng Cao Bằng, Quảng Tây hiện nay mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng). Nam Cương gồm chín xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương, Thục Chế mất, con là Thục Phán hãy còn ít tuổi. Chín chúa Mường kéo quân về bắt Thục Phán chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi nhưng rất thông minh, đã bày ra những cuộc đua sức, đua tài và giao hẹn ai thắng cuộc sẽ được nhường ngôi. Thục Phán dùng mưu kế làm cho các chúa mất nhiều công sức, mà không ai thắng cuộc. Cuối cùng, các chúa phải qui phục Thục Phán. Sau đó, “nước” Nam Cương trở nên cường thịnh. Thục Phán, nhân lúc nước Văn Lang suy yếu, đã đánh chiếm lập ra nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa.
Ý kiến (2) cho rằng nước Âu Lạc hình thành do quá trình sát nhập, mở rộng lãnh thổ của Thục Phán vào nước Văn Lang. Có 2 lý do được nêu ra trong ý kiến này. Lý do thứ nhất (có tính quy luật), nước lớn thôn tính nước nhỏ tạo thành quốc gia thống nhất. Theo lý do này, cư dân người Việt ở Văn Lang chủ yếu là người Lạc Việt và một bộ phận người Tây Âu sinh sống ở trung du và miền núi phía bắc. Cư dân Lạc Việt và Tây Âu sống xen kẽ với nhau, có mối quan hệ và gắn bó từ lâu đời. Nhân lúc Hùng Vương suy yếu, ở phía tây bắc Thục Phán tiến hành tiến công mở rộng lãnh thổ. Việc sát nhập lãnh thổ bằng cách cưỡng bức là một quá trình có tính quy luật của lịch sử. Việc các quốc gia thôn tính lẫn nhau là phổ biến, có tính quy luật. Mặc dù là đang tiến hành tấn công Hùng Vương liên tục, nhưng liên minh bộ lạc Tây Âu của Thục Phán đã có mối quan hệ chặt chẽ với nước Văn Lang. Mối quan hệ vừa giao lưu, liên kết, vừa đấu tranh, xung đột giữa hai tộc người gần gụi về dòng máu, về địa vực, về kinh tế, văn hóa như vậy là cơ sở và cũng là bước chuẩn bị cho sự hợp nhất hai tộc người Lạc Việt - Tây Âu để mở rộng và phát triển nước Văn Lang. Cuộc kháng chiến chống Tần càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa xu thế phát triển đó. Lý do thứ hai có thể xảy ra đó là tính cố kết làng xã, công xã trong nước Văn Lang chưa được bền chặt. Nước Văn Lang mặc dù được khai sinh từ liên minh 15 bộ lạc, nhưng liên minh này còn lỏng lẻo, tính liên kết chưa bền chặt và chúng tồn tại như những "nhà nước" độc lập bên cạnh nhà nước trung ương. khi nhà nước trung ương của Hùng Vương suy yếu, các "nhà nước" này cát cứ, tạo điều kiện cho Thục Phán có cơ hội tập hợp, liên kết lại để đánh bại, tiêu diệt nước Văn Lang. Đúng lúc Thục Phán đang tấn công Hùng Vương, quân Tần từ phía bắc tấn công vào Lạc Việt, các nhóm cộng đồng Tây Âu và Lạc Việt đứng trước mối nguy hiểm đe dọa. Trước tình thế hiểm nghèo đó, Thục Phán chính thức "xuất đầu lộ diện", trở thành một vị anh hùng, là người hùng nên ông có điều kiện tập hợp lực lượng tiến hành kháng chiến chống Tần. Sự hợp nhất trong hoàn cảnh đặc biệt đã tạo ra một quốc gia lớn hơn, Thục Phán có thiên thời, địa lợi va nhân hòa nên tập lượng lực lượng rất dễ dàng, thuận lợi mà không vấp phải sự chống đối nào. Quá trình cùng lãnh đạo, cùng chống giặc ngoại giữa các quốc gia với thế lực ngoại bang trở thành một xu thế, tạo điều kiện cho Tây Âu xâm nhập, mở rộng lãnh thổ.
2.2.2. Triệu Đà xâm chiếm Âu Lạc
- Vấn đề Triệu Trọng Thủy làm con tin ở nước Âu Lạc rất có khả năng thực tế. Đây là hiện tượng thường xuyên xảy ra ở những quốc gia đối kháng ở phần lục địa của Trung Quốc và Việt Nam vào thời kỳ này. Theo truyền thuyết Trung Hoa, chính Tần Thủy Hoàng cũng là một kết quả của mối tình con tin nổi tiếng. Hoặc sau đó, chính Triệu Văn Vương – người kế vị Triệu Vũ Vương (Triệu Đà) – cũng phải cho con mình đi làm con tin ở nhà Hán. Sự thật lịch sử này được giải thích như sau: Nam Việt bị sức ép từ hai phía là nhà Hán ở phương Bắc và Âu Lạc ở phương Nam. Khi mới lập quốc thế nước còn yếu, buộc Triệu Vũ Vương (Triệu Đà) phải hòa hoãn với Âu Lạc để củng cố quốc gia. Ông ta chứng tỏ thiện chí của mình bằng cách đưa thái tử làm con tin. An Dương Vương – người kế tục Hùng Vương – về nguyên tắc không thể công nhận vương quốc của Triệu Đà xây dựng trên vùng đất cũ của Văn Lang. Nhưng ông cũng chưa đủ sức để phục hồi lãnh thổ, nên đã chấp nhận hòa hoãn. Đây cũng là lý do khiến một số triều thần của An Dương Vương phản đối cuộc hòa hoãn này và bỏ đi. Như trường hợp của tướng quân Cao Lỗ. Khi Triệu Vũ Vương (Triệu Đà) củng cố quốc gia vững mạnh, đã cất quân đánh úp Âu lạc. An Dương Vương vì thiếu cảnh giác nên bị mất nước. Trọng Thủy đã bị chết trong cuộc chiến, do đang làm con tin ở Âu Lạc. Việc ngọc trai sáng lên khi được rửa trong nước giếng Cổ Loa, chỉ là một yếu tố thực đã được phát hiện từ lâu trong một xứ sở giàu ngọc trai như Văn Lang.
- Nhà Triệu của Triệu Đà và việc xâm lược Âu Lạc:
Ý kiến (2) cho rằng nước Âu Lạc hình thành do quá trình sát nhập, mở rộng lãnh thổ của Thục Phán vào nước Văn Lang. Có 2 lý do được nêu ra trong ý kiến này. Lý do thứ nhất (có tính quy luật), nước lớn thôn tính nước nhỏ tạo thành quốc gia thống nhất. Theo lý do này, cư dân người Việt ở Văn Lang chủ yếu là người Lạc Việt và một bộ phận người Tây Âu sinh sống ở trung du và miền núi phía bắc. Cư dân Lạc Việt và Tây Âu sống xen kẽ với nhau, có mối quan hệ và gắn bó từ lâu đời. Nhân lúc Hùng Vương suy yếu, ở phía tây bắc Thục Phán tiến hành tiến công mở rộng lãnh thổ. Việc sát nhập lãnh thổ bằng cách cưỡng bức là một quá trình có tính quy luật của lịch sử. Việc các quốc gia thôn tính lẫn nhau là phổ biến, có tính quy luật. Mặc dù là đang tiến hành tấn công Hùng Vương liên tục, nhưng liên minh bộ lạc Tây Âu của Thục Phán đã có mối quan hệ chặt chẽ với nước Văn Lang. Mối quan hệ vừa giao lưu, liên kết, vừa đấu tranh, xung đột giữa hai tộc người gần gụi về dòng máu, về địa vực, về kinh tế, văn hóa như vậy là cơ sở và cũng là bước chuẩn bị cho sự hợp nhất hai tộc người Lạc Việt - Tây Âu để mở rộng và phát triển nước Văn Lang. Cuộc kháng chiến chống Tần càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa xu thế phát triển đó. Lý do thứ hai có thể xảy ra đó là tính cố kết làng xã, công xã trong nước Văn Lang chưa được bền chặt. Nước Văn Lang mặc dù được khai sinh từ liên minh 15 bộ lạc, nhưng liên minh này còn lỏng lẻo, tính liên kết chưa bền chặt và chúng tồn tại như những "nhà nước" độc lập bên cạnh nhà nước trung ương. khi nhà nước trung ương của Hùng Vương suy yếu, các "nhà nước" này cát cứ, tạo điều kiện cho Thục Phán có cơ hội tập hợp, liên kết lại để đánh bại, tiêu diệt nước Văn Lang. Đúng lúc Thục Phán đang tấn công Hùng Vương, quân Tần từ phía bắc tấn công vào Lạc Việt, các nhóm cộng đồng Tây Âu và Lạc Việt đứng trước mối nguy hiểm đe dọa. Trước tình thế hiểm nghèo đó, Thục Phán chính thức "xuất đầu lộ diện", trở thành một vị anh hùng, là người hùng nên ông có điều kiện tập hợp lực lượng tiến hành kháng chiến chống Tần. Sự hợp nhất trong hoàn cảnh đặc biệt đã tạo ra một quốc gia lớn hơn, Thục Phán có thiên thời, địa lợi va nhân hòa nên tập lượng lực lượng rất dễ dàng, thuận lợi mà không vấp phải sự chống đối nào. Quá trình cùng lãnh đạo, cùng chống giặc ngoại giữa các quốc gia với thế lực ngoại bang trở thành một xu thế, tạo điều kiện cho Tây Âu xâm nhập, mở rộng lãnh thổ.
2.2.2. Triệu Đà xâm chiếm Âu Lạc
| Trọng Thủy - Mị Châu |
- Nhà Triệu của Triệu Đà và việc xâm lược Âu Lạc:
| Triệu Đà |
Thời cổ - trung đại, vấn đề quốc gia lớn thôn tính quốc gia nhỏ là chuyện thường tình, là quy luật. Theo Leonard Aurousseau, Trần Văn Giáp và Minh Tranh thì việc Triệu Đà xâm lược và thôn tính nước Âu Lạc là lẽ đương nhiên, hợp quy luật. Thậm chí Aurousseau còn cực đoan hơn cho rằng vùng Tượng Quận của Trung Quốc chính là quận Nhật Nam của Việt Nam và khẳng định Đà đã xâm lược Âu Lạc, sáp nhập Âu Lạc vào đất nước của mình (Tượng Quận của Đà là vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam), và theo ông ta, Thục Phán nhân nhà Tần có biến loạn đã nổi dậy chống Tần, Văn Lang và tiêu diệt Văn Lang và Âu Lạc cũng nằm trong trường hợp như vậy (210 - 207 TCN). Tổng hợp các ý kiến lại, chúng ta có thể nhận định một cách khái quát, việc Triệu Đà xâm lược và sáp nhập nhà nước Âu Lạc vào Nam Việt là chuyện thường ngày, là quy luật (quy luật nước lớn - nước nhỏ). Chúng ta đặt vấn đề ngay tại thời điểm chúng ta đang xét. Triệu Đà thực sự có ý định sát nhập mở rộng lãnh thổ từ lâu. Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, một viên tướng của Tần là Triệu Đà lập tức cát cứ chống lại Tần, thành lập một nước riêng gọi là Nam Việt. Thời Triệu Đà, quá trình sát nhập, mở rộng lãnh thổ điển ra thường ngày và gần như có tính quy luật tuyệt đối, Sự thù hằn, mâu thuẫn giữa các quốc gia đều có lý do và Triệu Đà không phải là ngoại lệ. Năm 183 TCN, Triệu Đà tách nước, lập nước Nam Việt nằm cạnh với nước Âu Lạc. Chính sự ra đời của Nam Việt đã đặt Âu Lạc vào thế là quốc gia liền kề với Nam Việt, do đó vấn đề xâm lược, mở rộng lãnh thỗ chắc chắn sẽ xảy ra và đó là lẽ đương nhiên. Như lẽ thường, việc nước lớn sát nhập, mở rộng lãnh thổ là chuyện thường ngày, lúc này chưa có luật pháp, tổ chức quốc tế cho rằng việc làm này là bất hợp pháp và nguy cơ chiến tranh là xảy ra.
Lịch sử Việt Nam có quá trình sát nhập, mở rộng lãnh thổ và đó là chuyện thường ngày. Triệu Đà rõ ràng có âm mưu xâm lược, sát nhập lãnh thổ (không bị ai cản, nghiễm nhiên như thế). Sau nhiều lần thất bại, Triệu Đà cho con trai là Trọng Thủy sang làm con tin, tìm hiểu bí mật quân sự của Âu Lạc và phá hoại nội bộ Âu Lạc. Điều này chứng tỏ Trung Quốc thông minh hơn nhiều trong quan hệ bang giao với nước ngoài (kẻ mạnh - người yếu), ra yêu sách buộc đối phương chấp nhân, nếu không đồng ý sẽ dùng vũ lực. Thực hiện kế hoạch của cha mình, Trọng Thủy tìm cách chia rẽ nội bộ tướng lĩnh, quan lại nhà nước Âu Lạc, lôi kéo và nhận được sự ủng hộ của những người theo phe của mình, điều đó dẫn đến tình trạng nội bộ nhà nước Âu Lạc chia rẽ, khủng hoảng sâu sắc (lý do là nhà nước sơ khai nên liên minh bộ lạc chưa được vững chắc vì Thục Phán sát nhập đất của Hùng Vương vào). Triệu Đà, Trọng Thủy lôi kéo các thủ lĩnh bộ lạc về phía mình. Trong nội bộ Âu Lạc dẫn đến tình trạng không thống nhất (chiến thuật thông thường của Trung Quốc - ly gián), và đây là lý do chính dẫn đến nước Âu Lạc diệt vong chứ không phải lý do trong truyền thuyết - nỏ thần mất vào tay giặc nên quốc gia mới mất.
Triệu Đà là quân cướp nước Âu Lạc. Trở lại lịch sử, chúng ta nói Thục Phán diệt Hùng Vương, lãnh đạo nhân dân đánh thắng quân Tần, hợp nhất lãnh thổ lại tuy nhiên sẽ có vài thách thức đang chờ đón ông ta. Việc ông ta tiến hành xâm lược, thôn tính Âu Lạc là việc thường ngày và chính quá trình xâm lược, mở rộng lãnh thổ làm cho đất nước Việt Nam có hình dáng như ngày nay. Việc xâm lược, mở rộng diễn ra thường xuyên và nó trở thành quy luật bất biến trong lịch sử, gắn với bối cảnh thực tế. Ông ta hành động đồng bộ, cương quyết hợp nhất lãnh thổ thành quốc gia lớn hơn và sau khi sát nhập Âu Lac vào lãnh thổ của mình, việc đầu tiên ông làm là chia đất nước thành 3 quận, thay đổi bộ máy chính quyền trung ương, không động chạm đến địa phương, nhường quyền cai trị các làng xã, thôn xóm cho các thủ lĩnh, hào trưởng, lạc tướng.
- Nguyên nhân mất nước của An Dương Vương:
An Dương Vương sở dĩ mất nước là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tổng hợp các ý kiến của các nhà sử học hiện đại, chúng tôi cho rằng có các nguyên nhân sau:
+ Triệu Đà có tiềm lực quân sự khá mạnh (tương quan lực lượng hai bên là tương đồng, nhưng bên Âu Lạc nhỉnh hơn), quân đội nhà Triệu là quân đội thống nhất, tập hợp đông đảo binh lính khắp nơi và quen chịu thủy thổ phương Nam. Sau nhiều lần thất bại, do tư tưởng Đại Hán vẫn còn nên ông ta nuôi âm mưu xâm lược Âu Lạc. Ông ta cho con là Trọng Thủy sang tìm hiểu bí mật quân sự (phép chế nỏ) của Âu Lạc, đồng thời lấy của cải để chiêu dụ, uy hiếp các thủ lĩnh địa phương buộc hô thần phục.
+ Nước Âu Lạc là tổ chức phôi thai của nhà nước, quý tộc và vua chúa, thủ lĩnh được thế tập (cha truyền con nối) nên có quan hệ với nhau, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau về quyền thế tập, chính quyền và xã hội. Do có mâu thuẫn (đặc biệt là mâu thuẫn giai cấp có xuất hiện, nhưng chưa rõ nét), việc thiết lập môt quyền lực công cộng là việc cần thiết thay thế tổ chức vũ trang chính trị của các làng xã tự trị và "không thể có được từ khi có sự phân hóa giai cấp" (Engel). Việc Thục Phán tập hợp các lực lượng chung quanh mình làm tổ chức này mất vai trò trong chiến tranh và trở thành thứ yếu, giúp quân chính quy của Phán kháng chiến chống Tần thắng lợi
+ Giai cấp quý tộc ỷ thế vũ khí mạnh, không phòng thủ, ăn chơi dẫn đến tình trạng xa rời nhân dân (quan hệ bất bình đẳng giữa nhà nước - nhân dân), mất nước là việc hiển nhiên.
- Nguyên nhân mất nước của An Dương Vương:
An Dương Vương sở dĩ mất nước là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tổng hợp các ý kiến của các nhà sử học hiện đại, chúng tôi cho rằng có các nguyên nhân sau:
+ Triệu Đà có tiềm lực quân sự khá mạnh (tương quan lực lượng hai bên là tương đồng, nhưng bên Âu Lạc nhỉnh hơn), quân đội nhà Triệu là quân đội thống nhất, tập hợp đông đảo binh lính khắp nơi và quen chịu thủy thổ phương Nam. Sau nhiều lần thất bại, do tư tưởng Đại Hán vẫn còn nên ông ta nuôi âm mưu xâm lược Âu Lạc. Ông ta cho con là Trọng Thủy sang tìm hiểu bí mật quân sự (phép chế nỏ) của Âu Lạc, đồng thời lấy của cải để chiêu dụ, uy hiếp các thủ lĩnh địa phương buộc hô thần phục.
+ Nước Âu Lạc là tổ chức phôi thai của nhà nước, quý tộc và vua chúa, thủ lĩnh được thế tập (cha truyền con nối) nên có quan hệ với nhau, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau về quyền thế tập, chính quyền và xã hội. Do có mâu thuẫn (đặc biệt là mâu thuẫn giai cấp có xuất hiện, nhưng chưa rõ nét), việc thiết lập môt quyền lực công cộng là việc cần thiết thay thế tổ chức vũ trang chính trị của các làng xã tự trị và "không thể có được từ khi có sự phân hóa giai cấp" (Engel). Việc Thục Phán tập hợp các lực lượng chung quanh mình làm tổ chức này mất vai trò trong chiến tranh và trở thành thứ yếu, giúp quân chính quy của Phán kháng chiến chống Tần thắng lợi
+ Giai cấp quý tộc ỷ thế vũ khí mạnh, không phòng thủ, ăn chơi dẫn đến tình trạng xa rời nhân dân (quan hệ bất bình đẳng giữa nhà nước - nhân dân), mất nước là việc hiển nhiên.
- Nhà Triệu có phải triều đại chính thống ở Việt Nam ?
1. Công nhận nhà Triệu là triều đại chính thống ở Việt Nam
Từ khi giành lại quyền tự chủ, nhiều triều đại Việt đề cao vai trò lịch sử của Triệu Đà. Các bộ quốc sử Việt Nam suốt thời phong kiến đều chép nhà Triệu là một triều đại chính thống.
Đời Trần, trong bộ Đại Việt sử ký, Lê Văn Hưu hết lời ca tụng Triệu Đà, so sánh ông với bậc hiền cổ như Thuấn, Văn Vương: "Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được"
Sau khi bình xong quân Minh, Nguyễn Trãi thay lời Bình Định Vương Lê Lợi soạn Bình Ngô đại cáo, rằng:
- Tự Triệu, Đinh, Lí, Trần chi triệu tạo ngã quốc,
- Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tức là:
- Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nên độc lập,
- Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương .
Hai câu này khẳng định nước Việt không những độc lập với phương Bắc mà còn xưng đế hiệu cùng một thời (nhà Triệu với nhà Hán), tỏ ra hoàn toàn ngang hàng.
Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, sử gia nhà Lê cũng dành cho Triệu Vũ Đế những lời tốt đẹp: Truyện Trung Dung có câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, ắt được sống lâu". Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua". Vua chính hợp câu ấy.
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: Triệu Đà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít. Điều này chứng tỏ Triệu Đà là người mang sự học đến Việt Nam từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp.
Cuối đời Nguyễn, Trần Trọng Kim soạn Việt Nam sử lược vẫn chép nhà Triệu là chính thống.
2. Phủ nhận, coi Triệu Đà là giặc, là ngoại bang.
Người đầu tiên đánh giá lại vai trò của nhà Triệu có lẽ là Ngô Thì Sĩ, cuối đời Hậu Lê. Trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là ngoại bang, Triệu Đà là kẻ ngoại tộc: "An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy",
Ngô Thì Sĩ kết luận: Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Đến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.
Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam, cũng phê phán sử cũ và coi nhà Triệu là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc. Tố Hữu làm thơ gọi họ Triệu là "giặc", phê phán Mỵ Châu làm mất nước:
-
- Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu,
- Trái tim lầm chỗ để trên đầu.
- Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
- Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu.
3. Nhìn nhận quan điểm:
a. Vấn đề nguồn gốc của dòng vua
Xoay quanh vấn đề Triệu Đà và nhà Triệu, mấu chốt là do quan điểm nhìn nhận. Các sử gia không có xu hướng coi nặng việc tìm nguồn gốc Triệu Đà và bản chất dân nước Nam Việt sẽ nhìn nhận Triệu Đà là vua Việt Nam. Ngược lại những người coi trọng nguồn gốc xuất thân, dân tộc của người cầm đầu chính quyền, và bản chất dân nước Nam Việt thì sẽ có nhìn nhận khác.
Triệu Đà là người Hán, vốn là tướng nhà Tần, quê ở Chân Định (tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ngày nay), mộ cha mẹ vẫn táng ở đấy.
Bên công nhận nhà Triệu cho rằng:
Nếu đặt ra vấn đề nguồn gốc của Triệu Đà, thì chính nguồn gốc của An Dương vương, gần đây cũng được nhiều nhà nghiên cứu nêu ra, sẽ không khác gì Triệu Đà. Theo một số công trình nghiên cứu gần đây (Lịch sử Việt Nam tập 1, Theo dòng lịch sử - nhiều tác giả) thì Thục Phán vốn gốc là dòng dõi người nước Thục ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) và sang xâm lược nước Văn Lang, tiêu diệt Hùng Vương. Nếu vậy, An Dương vương liệu còn là một triều đại Việt Nam không? Đi xa hơn nữa, nếu truy về nguồn cội tổ tiên, thì còn những trường hợp khác mà sử đã ghi, như Lý Nam đế (Lý Bí) có tổ 7 đời là người phương Bắc (Trung Hoa) vào Việt Nam, hoặc tổ tiên 5 đời của nhà Trần cũng vốn xuất thân từ đất Mân (Phúc Kiến - Trung Quốc) sang; tổ tiên của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thời Dương Tam Kha (sử chép là thời Hậu Hán 947 - 950, tương đương Dương Bình vương) được phong chức ở châu Hoan...
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trên thế giới, việc một người nước ngoài làm vua không phải là không có. Chẳng hạn nước Nga vẫn ghi nhận vợ của Pyotr Đại đế là Ekaterina I, dù không phải là người Nga, nhưng được chồng cho thừa kế ngôi, là nữ hoàng như các nữ hoàng khác.
Tuy nhiên, những người phản bác cho rằng trường hợp nữ hoàng Ekaterina I của Nga cũng không thể so với Triệu Đà: một đàng chỉ một người ngoại quốc đã "nhập gia" quê chồng, còn triều đình, quân đội, ngôn ngữ vẫn là bản địa, đằng kia toàn bộ triều đình, quân đội, ngôn ngữ là dị biệt. Đặt giả định nếu nhà Tần không mất thì Triệu Đà sẽ không tách ra cát cứ, và cũng sẽ chẳng có nước Nam Việt mà đó chỉ là một quận của Trung Hoa mà thôi. Vai trò của Triệu Đà khi ấy sẽ chẳng khác gì những viên quan Thái thú người Hán khác đã cai trị Việt Nam suốt thời Bắc thuộc.
Theo tác giả Hà Văn Thùy, cuối thế kỷ 18, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Trong khi đó, Triệu Đà có vợ Trình Thị là người Đường Thâm, Giao Chỉ, nên các con cháu ông - các đời vua sau của nhà Triệu - đều có phần máu Việt. Cũng theo ông Hà Văn Thùy thì "đúng Triệu Đà là người Hán nhưng đất Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta".
b. Vấn đề "xâm lược" hay "thống nhất"
Những người phản đối tính chính thống của nhà Triệu, trong đó có Ngô Thì Sĩ, lập luận rằng Triệu Đà khởi phát ở bên ngoài lãnh thổ nước Việt, chiếm nước Việt làm quận huyện. Nước Nam Việt của Triệu Đà không phải nước Việt với ba vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam mà trong sử sách Việt Nam vẫn coi là lãnh thổ của mình. Do đó, nếu coi Triệu Đà là một vua Việt Nam thì giả thuyết này coi nước Việt Nam lúc ấy bao gồm cả các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần của tỉnh Hồ Nam, Vân Nam, và Phúc Kiến của Trung Quốc bây giờ. Nếu không thì phải cho đây là một sự xâm lược.
Một số học giả lại không cho việc Triệu Đà sáp nhập vùng đất của Âu Lạc vào Nam Việt là xâm lược. Tác giả Hà Văn Thùy lập luận rằng "sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Do đó, việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Đà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành môt nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc." Học giả này đánh giá cao vai trò của nhà Triệu trong việc "tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt", và cho rằng đó là "di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt".
Theo một nghiên cứu của tác giả E Lusuo người Đài Loan về quá trình nhà Tần bình định vùng Nam Việt, dẫn tại, vào thời nhà Tần, dân cư bên này hay bên kia biên giới Việt-Trung hiện đại là không thể phân biệt được; các học giả Trung Quốc gọi họ là người Lạc Việt, họ được cho là sử dụng cùng một ngôn ngữ.
c. Vấn đề chấp nhận triều đại ngoại tộc
Có người cho rằng quan điểm của các sử gia Việt Nam và Trung Quốc, một nước phong kiến khác tại châu Á, có sự khác nhau. Ở Trung Quốc, có nhiều triều đại, điển hình là Bắc Ngụy thời Nam Bắc triều, nhà Nguyên, nhà Thanh đều xuất thân ngoại tộc, không phải người Hán, nhưng sử sách vẫn chép như những triều đại khác của Trung Quốc, không coi là thời kỳ bị nội thuộc Hung Nô hay Mông Cổ. Những triều đại này sử dụng tiếng Hán, nghi lễ tập tục trong triều đã Hán hóa khá nhiều. Thậm chí người Mãn đã Hán hóa đến mức ngày nay chỉ còn một số rất ít người già còn biết tiếng Mãn, còn lớp trẻ chỉ biết tiếng Hán, một phần người Mông Cổ hay người Mãn ngày nay là 2 trong số 56 dân tộc của Trung Quốc, tức là lịch sử của họ cũng có thể coi là một phần lịch sử quốc gia. Ngoài ra, đất đai của các triều đại này phần lớn là lãnh thổ Trung Quốc ngày nay.
Theo học giả Lê Thành Khôi thì mặc dù gốc Trung Hoa, Triệu Đà đã chịu đồng hóa với dân Nam Việt, mà ông chấp nhận các phong tục tập quán đến độ gần như quên cả quá khứ của mình.
Sau khi thành lập vương quốc mới, Triệu Đà thực thi chính sách cho vương quốc. Chính sách của ông áp dụng với Âu Lạc là tương đối giống với các địa phương khác, du nhập văn hóa, giáo dục của người Hán vào Nam Việt, giữ nguyên bộ máy chính quyền với mức độ cao. Ông sát nhập lãnh thổ, chia đất thì phải tính đến bối cảnh, tình hình lúc đó mà thực hiện. Sự hình thành nước Việt chẳng qua chỉ là sự tách ra, sát nhập các vùng đất, dân tộc khác vào mà thôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét